Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2014

Sách "Thực hành Diện Chẩn" (Phần 3.9)

Sách "Thực hành Diện Chẩn - Điều khiển liệu pháp" (Phần 3) -Tiếp theo.

RĂNG ĐAU (đau nhức răng)
Nguyên nhân:
Do vệ sinh răng miệng kém, các chất axit bám dính trong các kẽ răng ăn mòn men răng và tạo thành các lỗ nhỏ trên răng, khi các lỗ này chạm vào dây thần kinh sẽ gây đau nhức răng. Các bệnh về nướu răng cũng gây ra các cơn đau nhức răng.
Triệu chứng:
- Nhìn thấy lỗ sâu: Thường là thương tổn men và ngà răng. Nếu dùng que nạo ngà, lấy hết vụn bẩn thức ăn trong lỗ sâu, sẽ thấy đáy lỗ sâu rộng hơn miệng lỗ.
- Đau buốt khi kích thích: Khi thức ăn lọt vào lỗ sâu, khi ăn nóng, lạnh, ngọt..., bệnh nhân sẽ đau buốt; hết tác nhân kích thích sẽ hết đau.
Điều trị:
Phác đồ 1: Day ấn huyệt 57, 179, 188, 209, 300, 0
rang dau
Phác đồ 2:  Đau hàm trên: ấn huyệt 61.Đau hàm dưới: ấn huyệt 127.
rang dau 2
  Phác đồ 3: Hơ ngải cứu quanh vùng má bị đau  (bên ngoài), day ấn huyệt 13, 3 (đau bên nào, day ấn bên đó)
rang dau 3
Phác đồ 4: Nhức răng, ấn huyệt 188, 16, 57, 0, 14, 26, 297, 61, 3.

Phác đồ 5: Nhức răng, vuốt xuống hay bấm  huyệt 188, 196, 8
Phác đồ 6 : Day ấn, dán cao huyệt 34, 60, 57, 180, 0, 188, 196
Phác đồ 7: 39, 60, 3, 57, 180, 45, 51

rang dau 4

LOÉT CHÂN RĂNG
Nguyên nhân:
Chân răng hay nứu răng  bị sưng, loét thường do vi trùng tăng trưởng trong lợi, nứu răng, nó tiết ra các hóa chất gây đau hay làm mủ. Ngoài ra việc hút thuốc lá thường xuyên cũng làm hư nứu răng. 
Triệu chứng
Chân răng sưng to, có màu đỏ gây đau nhức hay ấn vào sẽ bị đau. Khi mới bị sưng nứu răng thì nứu, lợi bị sưng đỏ, dễ chảy máu khi đánh răng. Nếu chữa ngay sẽ không bị hư răng.
Điều trị
Dùng nước đá chà phía ngoài, nơi đau nhức và sưng. Sau đó chà các vùng sinh huyệt như Huyệt 300 (trên trán) huyệt 188, 196 (trên sống mũi giữa hai lông mày).
Dùng búa đầu cao su gõ nhẹ vùng má gần tai ( Huyệt 88 , 264 ) bên bị đau và các huyệt trên ( 300,188, 196) 
Có thể dùng ngải cứu hơ vùng dưới ngón trỏ và ngón cái trên mu bàn tay (Theo Hoàng Chu)  

Sách "Thực hành Diện Chẩn" (Phần 3.8)

Sách "Thực hành Diện Chẩn" (Phần 3) -Tiếp theo.
Lưỡi trắng
LƯỠI
Lưỡi là cơ quan vị giác nằm trong khoang miệng, đây là một khối cơ vân chắc, phủ ngoài bằng lớp biểu bì phân lớp, phía dưới là lớp mô liên kết.
Mặt trên lưỡi có nhiều nhú cảm giác (chồi cảm giác), nhú chứa các cơ quan hoá học nhạy cảm với chất có mùi vị. Trên lưỡi chia thành một số vùng tương ứng với khả năng cảm giác, vị giác khác nhau.
Một số bệnh được thể hiện qua lưỡi như lưỡi đỏ, bóng trong bệnh thương hàn; lưỡi trắng, có bựa trong bệnh tiêu hoá; lưỡi nhẵn chứa các nhú vị giác trong bệnh thiếu máu Biecme  lưỡi đỏ, phù nề trong dị ứng thuốc.  Việc khám lưỡi là một việc cần vì Lưỡi thường biểu thị một số tình trạng bệnh lý của nội tạng, cho thấy các các trạng thái của bệnh tật. Những tổn thương ở lưỡi không chỉ làm ta mất đi sự cảm nhận mùi vị, mà còn gây ra những khó khăn về phát âm .
 LƯỠI CO LẠI
Nguyên nhân: Một số bệnh khiến cho lưỡi không còn linh hoạt, vận động khó khăn.
Điều trị: Day ấn huyệt 14 (nằm sau mang tai)

CUỐNG LƯỠI ĐAU
Nguyên nhân:
Cuống lưỡi nằm sát ngay với cuống họng, vì thế thường chịu ảnh hưởng trực tiếp những viêm nhiễm từ Thực quản hay thanh quản như viêm amidal, viêm thực quản.

Điều trị:
Day ấn hay dán cao Salonpas vào các huyệt 1, 8, 12,14 (sau tai), 17, 61, 79, 96.
cuong luoidau
LỞ LƯỠI
Nguyên nhân:
Thông thường là do nóng trong người vì thời tiết hay dùng nhiều các loại thức ăn nóng, cũng có thể do Virus Herpes S1 làm bệnh trong khoang miệng, gây những đám mụn rộp ở lưỡi, ở môi và trong miệng. Khi đám mụn rộp vỡ ra gây đau rát, ăn uống sót từ mụn rộp. Nếu giữ vệ sinh không tốt vi trùng sẽ xâm nhập làm viêm loét.
Triệu chứng:
Trên lưỡi nổi lên các mụn nước hay bị phồng rộp lên và sau đó bể ra, khiến cho mọi tác động đầu gây đau đớn.
Điều trị:
Trước khi điều trị nên đánh bộ tiêu viêm : 3, 5, 16, 17, 26, 29, 38, 41, 50, 57, 60, 61, 85, 143.
Phác đồ 1: Day ấn các huyệt 63, 7,113 .

loluoi1
Phác đồ 2: Day ấn các huyệt:  3, 8, 38, 51,  60, 61, 79.

loluoi2
Phác đồ 3: Day ấn các huyệt: 8, 26, 57, 60, 61, 79, 109, 196, 312

 LƯỠI BỊ ĐÓNG TRẮNG
Nguyên nhân:
Khi bị cảm cúm, hay có những rối loạn tiêu hóa, sẽ xuất hiện những bợn lưỡi đóng trắng . Ngoài ra cũng có thể là do bị viêm nhiễm ở bề mặt của lưỡi.
Các loại vi khuẩn và tế bào chết chính là “thủ phạm” chính gây nên hiện tượng trên. Bên cạnh đó, những tác nhân như hút thuốc, sự mất nước hay vệ sinh răng miệng và lưỡi không sạch sẽ cũng là một trong số những nguyên nhân.
Điều trị:
Nên cạo lưỡi đều đặn cùng với những lần đánh răng.
- Tránh xa thuốc lá
- Uống đủ lượng nước cần thiết ( từ 7 đến 8 cốc/ngày)
- Bổ sung chất xơ trong chế độ ăn uống.
- Nên ăn nhiều táo, bông cải xanh, ngô
- Súc miệng nước muối vào buổi sáng và tối trước khi đi ngủ.
Dùng cây lăn đồng (hay cây lăn cầu gai ) và que dò để Gạch và lăn các huyệt 3, 39, 49, 61 và vùng mang tai (làm 3 lần)

TÊ LƯỠI, CỨNG LƯỠI
Day ấn hay hơ huyệt 79, 282.

te cung luoi
U MÁU Ở LƯỠI
Nguyên nhân:
Thường do ăn nhiều chất cay, béo, ngọt, uống nhiều rượu tạo ra nhiệt tổn hại tâm tỳ sinh chứng lở loét ở khoang miệng; do thấp nhiệt .
Triệu chứng:
Lưỡi xuất hiện một khối u nhỏ, tròn như hạt đậu đen, xung quanh sưng đỏ, gây trở ngại cho ăn uống.
Điều trị:
Day ấn các huyệt 0, 1, 3, 5, 17, 19, 26, 38, 39 50, 51, 57, 94, 96, 98, 240.
u mau luoi

Sách "Thực hành Diện Chẩn" (Phần 3.7)



Các bệnh về Miệng – Lưỡi – Răng
MIỆNG: Người ta thường nói, họa từ miệng mà ra, bệnh từ miệng mà vào, vì miệng là nơi tiếp nhận các loại thực phẩm để nuôi sống cơ thể, những cũng là nơi tiếp nhận các mầm bệnh ẩn chứa bên trong các loại thực phẩm không được sạch. Vì thế, giữ vệ sinh răng miệng và chỉ sử dụng các nguồn thực phẩm, thức uống hợp vệ sinh là điều cơ bản nhất để bảo vệ sức khỏe.
ĐẮNG MIỆNG:
Nguyên nhân:
Do bị cảm cúm, mệt mỏi trong người hay đang có sự lo lắng, căng thẳng, buồn phiền, giận dữ, làm cho khô miệng và đắng.
 Triệu chứng:
Dịch vị tiết ra rất ít nước bọt, làm miệng khô và tạo cảm giác đắng, khiến ăn không thấy ngon nên thường ăn ít hay bỏ ăn.
Điều trị:
Ấn, day các huyệt 26, 184, 235, 227 
(Phạm Chất Phác) 
Day Huyệt 235
(Lý Phước Lộc)
LỞ MIỆNG
Lở miệng là một bệnh lý thuộc về răng miệng, thường gây ra cảm giác đau đớn nhất là khi bạn há miệng hay khi nhai. Lở miệng thường xuất hiện ở trên lưỡi, môi, lợi hay bên trong thành má.. Nếu không điều trị ngay, lở miệng thường tự khỏi sau từ 7 đến 10 ngày nhưng có thể dẫn đến những bệnh chứng khác.
Nguyên nhân:
          Do nóng trong người, hay nhiễm trùng răng miệng đưa đến lở miệng, hay do sự thiếu hụt những chất như sắt, vitamin, đặc biệt là vitamin B12 và vitamin C. Ngoài ra còn có những nguyên nhân có thể dẫn đến lở miệng như : Vệ sinh răng miệng không tốt, dị ứng thức ăn,  stress, do bị viêm nhiễm vùng khoang miệng, hay thiếu cân bằng hàm lượng hormon, do bệnh đường ruột, do da.  
     Triệu chứng:

Bệnh nhân có các mụn nước (kín hoặc đã hở miệng) thường nằm ở chung quanh miệng (phía trong) khiến khi ăn uống, nhất là ăn đồ mặn, sẽ đau rát khó chịu.
Điều trị:    
Phác đồ 1: Day ấn huyệt 3, 38, 39
Phác đồ 2:  Day ấn huyệt: 3, 26,38 , 9, 51, 61, 85, 87.









HÀM CỨNG – ĐAU :
Điều trị:
Day ấn các huyệt: 156, 7, 61, 300, 94 và 3 ( bên không đau)
Hơ ngoài ngón tay cái (bên đau) từ đầu ngoài đến giáp cổ tay.

XƯƠNG HÀM MẶT ĐAU
Day ấn và hơ các huyệt: 8, 12, 20, 196, 188, 73, 267, 14, 15, 275.
Lăn cào trực tiếp trên vùng đau . Chữa trong 3 lần/ 3 ngày.

KHAN TIẾNG:
Nguyên nhân:
Do có bệnh trong người, hay do nói lớn tiếng, la hét trong một thời gian trên 1 giờ!     
Triệu chứng :
Bệnh nhân nói khào khào trong họng, không thể phát âm, hoặc khi nói cảm thấy đau nên không dám nói lớn. 

 Điều trị:
Khan tiếng, khan cổ :
Day ấn huyệt 3, 8, 14, 26, 275, 312.
Quẹt ở vùng Tỳ , Vị (Tương ứng các huyệt 37, 39 trên mặt ) - Hơ nóng vùng mắt cá chân (phía trước)

Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2014

Sách "Thực hành Diện Chẩn" (Phần 3.6)



TAI
Cấu trúc tai gồm 3 phần: tai ngoài, tai giữa và tai trong.
Tai ngoài: gồm loa tai (vành tai), ống tai.

Tai giữa: màng nhĩ. Chuỗi xương con (xương búa, xương đe, xương bàn đạp) các xương này liên kết với nhau bởi các khớp. Các tế bào chũm. Vòi Eustache là ống thông giữa hòm nhĩ với thành sau họng. Vòi nhĩ có chức năng điều hòa cân bằng áp lực trong hòm nhĩ và môi trường bên ngoài màng nhĩ.
Tai trong: gồm mê đạo xương tiền đình và các ống bán khuyên có chức năng giữ thăng bằng cho cơ thể. Ốc tai có hình dạng như con ốc có nhiệm vụ tiếp nhận âm thanh sau đó mã hóa và chuyển lên não.
Tai có các chức năng chính
- Dẫn truyền âm thanh
Cơ chế nghe: sóng âm thanh đập vào màng nhĩ lan truyền qua chuỗi xương con, ốc tai đến cơ quan thụ cảm âm thanh sau đó theo thần kinh ốc tai lên não.
- Giữ thăng bằng cơ thể, định hướng trong không gian:cơ quan tiền đình có chức năng giữ cho cơ thể luôn ở trang thái cân bằng trong không gian ba chiều.
Khi rối loạn chức năng sinh lý nghe dẫn đến giảm hay mất khả năng nghe. Rối loạn chức năng thăng bằng biểu hiện bệnh lý chóng mặt, mất thăng bằng.




Theo nguyên lý Đồng Ứng ( Đồng Dạng – Đồng Hình ) Tai còn đồng ứng với Quả thận và Dạ dày. Vì thế trong việc điều trị các bệnh về Thận và Dạ dày, ta có thể tác động trên 2 vành tai như một biện pháp hỗ trợ.
Theo Luật Lân Cận ( Mắt đâu Tai đó ) thì Tai còn nằm ở các vùng :
-          Vùng dưới và trước mắt cá ngoài bàn chân.
-          Vùng dưới đốt thứ ba ngón tay trỏ
ĐIẾC TAI :
Căn cứ cấu tạo giải phẫu và chức năng các bộ phận của tai, người ta phân biệt các thể bệnh điếc như sau:
Điếc dẫn truyền: do có dị vật nằm ở tai ngoài và tai giữa như nút ráy tai, viêm tai giữa, ngăn cản sự dẫn  truyền của âm thanh đến tai trong, mức độ điếc nhẹ hay vừa, có khi chỉ bị điếc tạm thời. Có thể dùng thuốc hay phẫu thuật, sử dụng máy nghe đối với thể điếc này hiệu quả rất tốt.
- Điếc tiếp nhận ốc tai: do tổn thương nằm ở tai trong, khi đó âm thanh truyền đến tai trong không biến đổi được thành các xung điện, gặp trong các trường hợp: điếc ở người cao tuổi, do ảnh hưởng của tiếng ồn lâu ngày làm cho các tế bào của ốc tai bị tổn thương, điếc do nhiễm vi khuẩn hoặc virut trong các bệnh như quai bị, viêm màng não... Mức độ điếc: nhẹ, vừa, nặng, sâu, thậm chí điếc hoàn toàn.
- Điếc hỗn hợp: do có tổn thương tai ngoài, tai giữa, hay cả tai ngoài và tai giữa và tai trong. Loại điếc này có cả đặc điểm của điếc dẫn truyền, điếc thần kinh ốc tai.
Điều trị :
Có một huyệt rất công hiệu để trị bệnh Điếc:
Điểm gặp từ huyệt 139 kéo thẳng lên và từ 103 kéo qua. Khi ấn vào rất đau nhưng rất công hiệu.
Các phác đồ :
1/ Day ấn huyệt 15 – 0 , cào da đầu vùng trên tai. Day ấn sinh huyệt quanh tai. Bấm sinh huyệt quanh mắt cá chân.
( Bùi Quốc Châu và Lý Phước Lộc)
2/ Day ấn huyệt :
-          43, 45, 65, 300, 235, 0
-          8, 189, 1, 39, 57, 132
-          43, 45, 65, 300, 235, 0
Day ấn một trong 3 phác đồ trên kết hợp với cào đầu phía trên đỉnh tai, sau tai.
Kinh nghiệm điểu trị của học viên:
-          Day ấn 41, 16, 37, 38 : Dãn cơ, thanh nhiệt, thông khí.
-          Day ấn 45, 1, 300, 0: Tăng khí huyết vùng đầu.
-          Hơ ngải và dán cao các bộ huyệt trên. ( lưu cao 2 giờ)
-          Hơ ngải vùng đồng ứng với tai trên bàn tay nắm lại.
-          Cào đầu nhiều lần
-          Dùng lăn cầu gai đôi lăn hai bên thăn lưng và vùng thắt lưng ( ngày 1 – 2 lần).
( Theo Phan Xuân Quyên - K 2 )
LÃNG TAI :
Điều trị: Day ấn huyệt 65, 3, 45, 300, 14, 15, 16, 0
NHỌT SAU TAI :
Điều trị:  Day, dán cao huyệt 360, 38
Ở những người già, thận và tỳ suy kém nên thính lực thường bị giảm, đôi khi còn nghe những tiếng vi vo trong tai.
 Điều trị:
Phác đồ 1: Day ấn nếu người bình thường, dán cao khi người có trạng thái lạnh tay chân, các huyệt:
8, 189, 1, 39, 37, 132. 


Phác đồ 2 : Day ấn các huyệt 14, 15, 16, 138, 0, 3, 179


Phác đô 3:
Day ấn huyệt 3, 14, 15, 16,  0.

VIÊM TAI GIỮA
Bệnh có nhiều dạng lâm sàng khác nhau tuỳ: tuổi, thể trạng, nguyên nhân, tổn thương, tiến triển...
Nguyên nhân :
Có nhiều hình thức Viêm tai giữa :
Viêm tai giữa cấp xuất tiết :
Do viêm mũi họng, viêm VA - Do mất thăng bằng áp lực không khí giữa tai giữa và tai ngoài - Do cơ địa dị  ứng.
Viêm tai giữa cấp mủ
Thường do viêm mũi họng, viêm amidan, viêm V.A., viêm xoang, sau các bệnh nhiễm trùng lây: như cúm, sởi...Sau chấn thương: do áp lực, do hỏa khí gây thủng màng nhĩ...
Nguyên nhân khác có thể gặp như: nhét bấc mũi sau để quá lâu, xì mũi không đúng cách, do khối u ở vòm mũi họng, thoái hóa đuôi cuốn dưới làm tắc vòi Eustasche.
Viêm tai giữa mạn tính
Gồm VTG mạn tính mủ nhầy và VTG mạn tính mủ mãn. Hai thể này khác nhau về nguyên nhân, tổn thương giải phẩu bệnh, triệu chứng lâm sàng, biến chứng, điều trị và tiên lượng.
Điều trị :
Dán cao các huyệt 14, 15, 16 – Day ấn huyệt: 65, 45, 17, 38
VIÊM TAI GIỮA CÓ MỦ VÀ MÁU:
Điều trị:
1.     Day ấn : 16, 138, 0, 14, 61, 37, 38, 17, 1 ( Vưu Thị Mai)
2.     Day, ấn dán cao : 14, 15, 16, 0 ( Bùi Quốc Châu)
3.     Day ấn : 65,45, 17, 38 và thổi hơi nóng vào lỗ tai có mủ.
 TAI CÓ MỦ :
Điều trị : Day ấn gõ, hơ nóng :
Huyệt chính diện : 332, 179, 0, 17, 79, 127, 38.
Huyệt trắc diện : 280, 60, 14, 15. 57


Kinh nghiệm điểu trị của học viên:
Chữa viêm tai có mủ :
Dùng que dò huyệt 14, 15, 16, 0, 65  thấy đau buốt,  ấn 40 nhịp mỗi huyệt, sau đó thổi hơi nóng ngải cứu vào trong tai đau. Mỗi ngày làm 1 lần, sau 3 ngày thì khỏi hẳn.
Ngô Hoàng Yến – khóa 116/2011

(CÒN TIẾP)

Thứ Năm, 30 tháng 1, 2014

Sách "Thực hành Diện Chẩn" (Phần 3.5)



MŨI
Bệnh về mũi – xoang mũi:
Mũi: Mũi có dạng hình tháp với đỉnh (phần gốc mũi) nằm giữa hai mắt.
Đáy mũi quay xuống dưới là nơi mở ra của hai lỗ mũi. Hai lỗ mũi được ngăn cách với nhau bằng trụ mũi bên ngoài và vách ngăn bên trong.
Khung sụn – xương mũi là giá đỡ cho tổ chức phần mềm ở trên, trong đó phần xương chính mũi nằm ở 1/3 trên của tháp mũi, 2/3 dưới là khung sụn bao gồm sụn tam giác, sụn cánh mũi, sụn vách ngăn mũi.
Ngoài ra còn có các sụn vòng nằm giữa sụn tam giác và sụn cánh mũi.
Do có cấu trúc giải phẫu như trên nên phần trên của mũi sờ vào thấy cứng và cố định vì ở dưới là nền xương. Còn phần đầu mũi thấy mềm và dễ dàng di động vì ở dưới là nền sụn.

NGHẸT MŨI
Mũi không chỉ là đường lưu thông không khí mà còn có thể lọc sạch, làm ấm và làm ẩm không khí. Không khí khô, lạnh, không sạch sau khi lưu thông qua hốc mũi sẽ trở nên sạch sẽ, ấm áp và ẩm ướt, phù hợp với đường hô hấp trên và phổi. Do đó nếu hốc mũi bị tắc do viêm nhiễm, bệnh nhân phải thở bằng miệng, thì không khí hít vào sẽ không được lọc sạch, không được làm ấm và ẩm nên rất dễ gây viêm họng và viêm thanh quản, viêm khí phế quản và phổi. Hơn nữa, mũi không thông sẽ ảnh hưởng tới giấc ngủ, nghỉ ngơi cũng như làm giảm hiệu suất làm việc.
Nguyên nhân gây nghẹt mũi:
- Viêm mũi cấp, viêm mũi vận mạch, viêm mũi dị ứng, viêm mũi teo, lệch vách ngăn, khối u trong mũi, chấn thương.
Tùy từng nguyên nhân sẽ có phương pháp giải quyết khác nhau. Vì thế khi bị nghẹt mũi, cần xác định rõ nguyên nhân để có biện pháp điều trị phù hợp.
 Điều trị :
·         Day ấn, hơ các huyệt: 184, 300, 287, 61, 0
·         Hơ đồ hình mũi trên trán ( từ huyệt 103 xuống  26) vài chục giây.
·         Hơ lòng bàn tay thấy các mao mạch ở mũi nở ra, mũi thông ngay.
·         Hơ ngải cứu các sinh huyệt cạnh bàn tay (Hơ chỗ nào bắt nóng nhiều nhất) hoặc hơ sinh huyệt cạnh vành tai ( Bùi Quốc Châu)
 Phác đồ theo kinh nghiệm:
·         Gõ H.330 ( bên khoé mắt) và H. 360. (theo Lý Phước Lộc)
·         Cũng có thể day ấn huyệt số 3 và huyệt 23 (Trần Tuyết Mai) hay dán cao Salonpas 7, 61, 432, 565 ( theo Lý Phước Lộc)
HẮT HƠI – NHẢY MŨI
·         Ấn và kéo mạnh huyệt 287 ( hai huyệt nằm ngay dưới lỗ mũi) vài chục cái.
·         Hơ từ huyệt 103 (ngay giữa trán) đến huyệt 26 - Ấn huyệt 209.
Hắt hơi :  Ấn huyệt 19, 63, 1, 0.
SỔ MŨI
Trung bình mỗi ngày có khoảng 9.000 lít không khí đi qua lỗ mũi để vào phổi. Qua dây mũi sẽ làm cho không khí đủ ấm (vừa bằng với thân nhiệt) và ẩm (bằng độ ẩm của cơ thể) trước khi vào đến phổi; nếu không, phổi sẽ bị hư hại.
Trên đường từ lỗ mũi vào phổi, không khí phải đi qua 2 buồng trống nằm hai bên cánh mũi và phía dưới mắt. Tại những buồng trống này có các tuyến tiết ra nước mũi để làm không khí đủ ẩm khi vào đến phổi. Các tuyến này mỗi ngày trung bình tiết ra chừng 2 lít nước mũi để giữ ẩm cho các cơ trong mũi, miệng, cổ họng và các buồng không khí nói trên.
Thông thường, nước mũi chảy dọc xuống theo vách sau của mũi và cổ họng, kế đó được đánh văng lên do một số tế bào mỏng như sợi chỉ. Nếu không khí quá khô, chất đờm trong cổ họng bị khô lại và trở nên dính như keo. Chất này làm nhu động phe phẩy của những tế bào hình sợi chậm lại . Khi đó, nước mũi sẽ đọng lại thành vũng ở vách sau của mũi, không khí ra vào mạnh thường tạo nên tiếng kêu sột soạt, và như thế là bạn đã bị sổ mũi.
Điều trị
Rửa mũi bằng nước muối
Hãy pha nửa thìa cà phê muối vào 1/4 lít nước (tương đương với khoảng 2/3 lon bia). Bạn có thể dùng dụng cụ nhỏ giọt hoặc một chai thuốc nhỏ mũi đã hết, cho nước muối vào đó, ngửa mặt lên cho nước muối có thể chảy vào mũi. Kế đó xịt nước muối vào mũi; trong lúc xịt, hít nhẹ để giúp nước muối vào mũi sâu hơn.
Súc miệng bằng nước muối
Cũng với dung dịch nước muối pha sẵn với nồng độ như trên (nửa thìa cà phê muối trong 1/4 lít nước), hãy ngậm một ngụm vào miệng, rồi ngửa cổ lên cho nước muối chảy vào cổ họng. Đừng nuốt, hãy tống hơi lên cho nước muối bị đẩy ngược trở lại, tạo nên tiếng động trong cổ họng.
Nước muối vào cổ họng có công dụng rửa bộ phận phát âm trong đó. Khi bạn thổi hơi lên nhiều, một phần nước muối bị tống ngược lên mũi và rửa cho mũi sạch hơn.
Uống nhiều nước
Việc uống nhiều nước có thể giúp cuốn trôi đi một số đờm hay nước mũi còn đọng lại trong cổ họng.. Nên uống nước ấm có pha chút chanh là tốt nhất. Có thể pha thêm đường hay mật nếu không quen với vị chua của chanh.
 Đừng ăn cay
Các chất cay như tiêu, ớt, mù tạt, càri... có tác dụng kích thích nước mũi chảy ra nhiều hơn.
Đừng uống sữa
Khi bị sổ mũi vì vi khuẩn xâm nhập đường hô hấp, không nên uống sữa bò vì nó sẽ cung cấp chất dinh dưỡng, giúp cho các vi khuẩn này sống mạnh, sống lâu và sinh sản mau lẹ hơn. Đồng thời, những thực phẩm làm từ sữa như kem cũng không nên ăn nhiều.
Có phải bạn thường sổ mũi khi lo nghĩ nhiều?
Một số người thường bị sổ mũi hay nghẹt mũi khi buồn phiền hay lo lắng nhiều.
 Phác đồ điều trị căn bản:
Day ấn các huyệt : 61, 184, 16  hay các huyệt 16, 126, 287, 0.

Phác đồ theo kinh nghiệm:
Day ấn huyệt số 3 + và huyệt 7 + (bên phải) , dán cao huyệt 175, hoặc 126, hoặc 219
( theo Trần Tuyết Mai) 
Day ấn huyệt 143, ấn huyệt 287,  gạch huyệt 197 ngược lên trên ( Ni cô Diệu Tuyền)
Bôi dầu, đánh nóng các huyệt vùng tai: 16, 138, 0, 275.
Kinh nghiệm điều trị của học viên
Sổ mũi, nghẹt mũi:
Con trai tôi thường xuyên bị bệnh, và mỗi lần bệnh là kèm theo sổ mũi, nghẹt mũi. Tôi đã day ấn và dán huyệt: 184 – 61 – 23 – 5 . Trước đây tôi dùng những phác đồ khác thì cháu không hết, từ khi tôi dùng phác đồ này thì con tôi đã hết hẳn. Nguyễn văn Thành – khóa 104
VIÊM XOANG
Viêm xoang là một bệnh rất phổ biến ở các quốc gia ô nhiễm môi trường. Đây là căn bệnh thường kéo dài, dễ tái đi tái lại. Đó là tình trạng do các niêm mạc trong xoang bị sưng lên làm cho các lỗ thông của xoang vào trong mũi bị nghẹt. Ngoài ra, trên lớp niêm mạc ( da lót trong mũi) có những lông dùng để cản bụi và giữ nước mũi, nếu hoạt động không tốt khiến nước mũi đọng lại trong các xoang cũng có thể gây ra tình trạng viêm xoang. Tình trạng bị dị ứng hay có một cái u bướu lành tính trong xoang cũng  đưa đến viêm xoang.
Ngoài ra, một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng viêm xoang là do môi trường, do bị ô nhiễm vì bụi hay nước bị nhiễm bẩn, do bơi hay tắm trong nguồn nước không sạch.
Có 5 loại viêm xoang khác nhau, nhưng nói tổng quát thì có viêm xoang cấp tính, viêm xoang mãn tính và viêm xoang đặc hiệu (như viêm xoang hàm, viêm xoang trán v.v.)
Viêm xoang cấp tính thường gây nhức đầu, như viêm xoang hàm làm nhức 2 bên má, viêm xoang trán gây nhức trán. Viêm xoang sàng trước hay xoang sàng sau (xoang bướm) làm nhức ở mắt hay trên đỉnh đầu. Viêm cấp tính còn gây ra tình trạng nóng sốt, nghẹt mũi, người lừ đừ. Còn viêm xoang mãn tính thì triệu chứng kéo dài mà không rõ ràng. 
Một trong những biến chứng nguy hiểm của viêm xoang là nó gây ra nhiễm trùng mắt, tạo thành một bọc mủ (gọi là apxe), hay lan qua óc có thể đưa đếm viêm màng não, gây ra những bọc mủ trong não.

Điều trị :
Tác động các huyệt 26, 50, 61, 65, 8, 124, 126, 106, 0 

Dùng một trong các biện pháp dưới đây:
Day ấn huyệt 38, 17, 37, 50, 3
Day, ấn, xoa huyệt : 12, 65, 61, 184, 3, 38, 50, 106, 103.
Day ấn huyệt : 65, 97, 99, 379, 126, 0.
Day ấn huyệt: 240, 184, 287, 48, 121, 39, 132.
Day ấn, dán cao Huyệt: 12, 184, 61, 38
Day ấn bộ thăng : 127, 50, 19, 39, 37, 1, 73, 189, 103, 300, 0  rồi hơ đồ hình mũi ( trên trán) hơ sống mũi, sườn mũi, cánh mũi.
Nếu còn nhức đầu thì hơ tiếp đồ hình phản chiếu não bộ trên mu bàn tay nắm lại.
Day ấn huyệt 209 rồi hơ vài lần.
Chấm cao Deep Heat huyệt 467, 360, 180.

VIÊM XOANG MŨI:
Dán cao trên các huyệt:



Cách 1 : Huyệt 38, 17, 37, 50, 3
 Cách 2: Huyệt 240, 184, 287, 48, 121, 39, 132
Cách 3: Huyệt 65, 97, 99, 379, 126, 0

Kinh nghiệm điều trị của học viên : 
Viêm xoang mũi: Hơ ngải cứu dọc theo sống mũi và 2 bên sống mũi. Hơ kỹ trên sinh huyệt đến khi chỗ đó hết nóng buốt thì thôi, hơ 3 lần cách quãng.  Bùi Quang Hưng – K. 110
Viêm xoang, nhức mỏi toàn thân, nhức đầu, khó ngủ: Dùng bộ Ổn định thần kinh 124-34-103-106-267-300-0-26-50-1-37, Nhức mỏi toàn thân 34-21-1-6 , kết hợp lăn khắp mặt và ở vai, tay, lưng. Sẽ dễ chịu, không còn nhức đầu. Bùi thị Kim Tiến – khóa 110 
VIÊM MŨI DỊ ỨNG 
Viêm mũi dị ứng là hiện tượng mũi bị viêm, sưng tấy do dị ứng với các tác nhân như bụi, khói, lông, tơ, thời tiết, nhiệt độ, độ ẩm, áp suất không khí.... gây khó chịu cho người bệnh. Nó thường kết hợp với viêm tai giữa, viêm mũi xoang, suyễn.

Điều trị :
Cách 1: Day ấn huyệt 16, 138, 170, 0, 126.
Cách 2 : Day ấn huyệt 300, 175, 184, 287, 127, 365

Cách 3: Day ấn huyệt 39, 49, 65, 103, 184, 12
Cách 4: Day ấn huyệt 0, 300, 45, 61, 184
Cách 5: Day ấn huyệt 0, 17, 287, 45, 184, 138
Kinh nghiệm điều trị:
-          Day ân huyệt 6, 19, 34, 275, 295 rồi lăn vùng trước tai xuống đến quai hàm hai bên viền mũi.
-          Day ấn huyệt 6, 34, 14, 16, 275, 21, 61, 287, 38
Ngày làm 2 lần, sau một tuần chữa liên tục, BN đã khỏi. Nguyễn Tự Phú – K- 12
VIÊM MŨI DỊ ỨNG THỂ NHIỆT:
Điều trị : Day ấn 124, 3, 26, 61, 3, 143, 38, 222, 156, 87
Nếu nặng lấy cây lăn gai, lăn các vùng phản chiếu :
Dọc theo đỉnh đầu ( sống đầu ) Sống mũi, sống tay, sống chân.
Phác đồ này trị luôn Suyễn nhiệt và Dị ứng da ngứa.
Phác đồ 2: Hơ dán gõ 127, 50, 19, 37, 1, 189, 73, 12, 258, 45, 0 (Theo Tạ Minh)
VIÊM MŨI DỊ ỨNG THỂ HÀN
Điều trị: Day ấn 127, 38, 19, 37, 1, 16, 73, 189, 103, 300, 0.
Hơ nóng hoặc xức dầu sống đầu, sống trán, sống mũi, sống tay, sống bàn chân.
Phác đồ này trị luôn Suyễn Hàn và Dị ứng da ngứa. 
CÒN TIẾP