MẮT
Mắt người là một phần của não hình thành từ tuần thứ 3 của phôi kỳ dưới dạng hai túi thị nguyên thủy, phát triển và lồi dần ra phía trước tạo thành võng mạc, thủy tinh thể và các thành phần hoàn chỉnh khác.
Cặp mắt là một trong năm gác quan quan trọng, giúp con người quan sát và kiểm soát môi trường chung quanh.
Mắt người nằm trong hai lỗ hốc hai bên sống mũi, trên có gò lông mày và trán, dưới giáp xương má. Màng mạc bọc xương của hốc mắt nối tiếp bên sau với màng cứng của não, bọc theo dai dây thần kinh thị giác. Bên ngoài có hai mí mắt khi nhắm lại che kín hốc mắt. Mí trên có lông mi dài cong, lông mi của mí dưới ít hơn và ngắn hơn. Bên trong hốc mắt có các tuyến nước mắt, các bắp thịt di chuyển mắt, trong cùng là các mô mỡ chêm đệm không cho mắt bị kéo vào phía sau bởi các bắp thịt.
![]()
BỤI VÀO MẮT:
Cách đơn giản nhất : Thè lưỡi liếm khóe miệng chéo với bên mắt đáng có bụi làm cho xốn, ngứa. Liếm vài giây là đủ.
MẮT XỐN KHÓ CHỊU :
- Nấu chè đậu xanh ăn 3 hôm liền ( ngày ăn 2,3 ly lớn)
- Áp cục nước đá vào các vùng mắt trên bàn tay và huyệt 16.
- Tác động các huyệt : 0, 8, 12, 130, 131.
MẮT CÓ GHÈN :
- Dùng đá chườm 3 lần cách khoản vào các huyệt 197, 34, 423, 422, 100, 130, 102. ( Đau bên nào chườm bên đó ) .
- Kết hợp với việc chườm đá vào vị trí mắt trên bàn tay.
- Day ấn bộ tiêu viêm tiêu độc. ( Trần Minh Hằng K.10)
ĐAU MẮT ĐỎ CẤP TÍNH
Biểu hiện của viêm kết mạc cấp (đau mắt đỏ) thường bắt đầu khởi phát cấp tính. Triệu chứng chính là cộm mắt, cảm giác có dị vật trong mắt. Một đặc điểm quan trọng là có ghèn rử, sáng ngủ dậy thường bị dính hai mi lại.
Các dấu hiệu khác gồm: tiết rử nhầy hoặc lỏng, đỏ và phù nề mi, sờ thấy hạch trước tai, xuất hiện dưới kết mạc từng chấm hồng, có màng hoặc giả mạc, thẩm lậu dưới biểu mô vài ba tuần sau khi bắt đầu bị viêm kết mạc.
CHẢY NƯỚC MẮT SỐNG
“Bình thường, người ta chỉ chảy nước mắt khi xuất hiện cảm xúc thái quá như buồn bã, giận dữ, đau khổ hoặc hạnh phúc... Ngược lại, khi không có cảm xúc nhưng nước mắt vẫn lưng tròng, thậm chí rơi thành giọt lã chã thường xuyên, thì đó là dấu hiệu của bệnh chảy nước mắt sống”. Có nhiều nguyên nhân gây tắc nghẽn hệ thống lệ đạo như người bệnh từng bị đau mắt hột, viêm mũi, viêm xoang, chấn thương vùng sống mũi... Tuy nhiên cũng có trường hợp vô căn, chủ yếu ở phái nữ. Lý giải trường hợp này, người ta nghĩ nhiều đến khả năng xáo trộn nội tiết tố làm phình trướng hệ thống lệ đạo gây tắc nghẽn.
Ở giai đoạn đầu, bệnh nhân chảy nước mắt sống thường trải qua tình trạng mắt ướt, nhìn mọi vật nhòe đi. Trường hợp nặng hơn, nước mắt có thể rơi xuống má. Lâu dài, sự tắc nghẽn lệ đạo làm ứ đọng chất nhờn gây viêm niêm mạc túi lệ và dẫn đến bệnh viêm túi lệ mãn tính.. Nếu không điều trị sớm, tình trạng này sẽ dẫn tới những biến chứng như viêm túi lệ cấp, sưng tấy hốc mắt, thậm chí viêm màng não, nhiễm trùng huyết và tử vong.
Điều trị : Day ấn các huyệt 16, 195, 87, 51
CƯỜM NƯỚC : tăng nhãn áp
Ở nước ta, cườm nước là bệnh rất phổ biến. Tỷ lệ mắc bệnh ở những người trên 50 tuổi chiếm khoảng 2%, đồng thời là một trong những bệnh gây mù lòa nhiều nhất.
Cườm nước là gì?
Bệnh tăng nhãn áp (glô-côm) là một bệnh trong dân gian thường gọi là cườm nước. Đây là tình trạng tăng nhãn áp cao hơn mức bình thường, gây tổn thương thần kinh thị giác dẫn đến mù lòa.
Cườm có nhiều dạng: nặng hay nhẹ, cứng hay mềm, thay đổi nhanh hay chậm, toàn bộ thủy tinh thể hay chỉ một phần. Có ba dạng cườm chính :
· Cườm trong lõi (Nuclear). Chất đặc trong lõi thủy tinh thể bị đục và từ từ cứng lại, thay đổi độ hội tụ của mắt. Đôi khi trong một thời gian ngắn có thể làm nhãn quan khá ra và nhiều người khỏi đeo kính khi đọc sách. Nhưng sau đó lõi tiếp tục bị đục mờ nhiều hơn, ố thành màu vàng, xanh rồi nâu. Bệnh nhân khó phân biệt hình vật khi gần tối.
· Cườm vỏ (Cortical). Bắt đầu như một vệt trắng, cườm ăn lan theo lớp màng bọc hủy tinh thể từ ngoài rìa vào trung tâm và gây rối loạn cho ánh sáng đi qua thủy tinh thể. Thị giác xa và gần đều bị giảm, đôi khi hình ảnh bị bóp méo. Bệnh nhân hay bị chói mắt và khó phân biệt sáng tối.
· Cườm dưới vỏ (Subcapsular). Loại cườm này mọc khu phía sau thủy tinh thể, dưới lớp màng bọc, thường nằm trên trục thị giác chắn hoặc làm rối loạn tia sáng đi vào võng mạc. Bệnh nhân đọc sách không rõ chữ, hay bị chói và khi tối thường thấy hào quang chung quanh những điểm sáng.
Nguyên nhân
Tất cả mọi người đều có thể bị glô-côm nhưng những đối tượng sau đây có nguy cơ dễ mắc bệnh hơn:
- Người trên 40 tuổi (thường gặp ở nữ nhiều hơn nam).
- Trong gia đình có người thân bị glô-côm. Người có mắt nhỏ, viễn thị, giác mạc nhỏ. Người có tâm trạng hay lo lắng. Bệnh nhân đái tháo đường. Sử dụng thuốc corticoid kéo dài. Người có tiền sử bị chấn thương vào mắt.
Triệu chứng
Glô-côm mạn tính:
Còn gọi là glô-côm góc mở tiến triển rất thầm lặng. Khi bệnh tiến triển, người bệnh bị thu hẹp dần thị trường người bệnh chỉ có thể nhìn thấy những vật ở phía trước mặt, không thể nhìn thấy hai bên, kiểu "thị giác đường hầm" (tunnel vision)
Glô-côm cấp tính:
Còn gọi là glô-côm góc đóng khởi phát đột ngột với những biểu hiện: đau nhức mắt, đau lan nửa đầu thường dễ lầm với bệnh nhức đầu, thị lực giảm sút, nhìn vào ngọn đèn thấy quầng xanh đỏ như cầu vồng, có thể buồn nôn, cảm giác choáng váng. Các biểu hiện này có thể kéo dài vài giờ rồi hết sau đó lại xuất hiện trở lại.
Phác đồ 2 :
Bước 1: Day ấn các huyệt: 324, 131, 41, 237, 235, 290, 184, 34, 16, 199 .
Bước 2 : Gạch các sinh huyệt theo đồ hình mắt
Bước 3: Dò sinh huyệt trên chân mày rồi dùng cầu gai lăn nhiều lần trong ngày.
Có thể kết hợp bộ Bổ âm huyết để tăng dinh dưỡng cho mắt. Ngoài ra những vùng Phản chiếu mắt ở lòng bàn tay, cổ gáy, lưng, bàn chân củng rất hiệu quả đối vớt các bệnh về mắt, cần lưu ý phối hợp cho đúng.
MẮT CÓ MỦ
MẮT MỜ ( ĐỤC THỦY TINH THỂ )
Ấn ép nhãn cầu từ 30 -60 giây ( ấn 5 giây thư giãn 1 – 2 giây) Thêm bộ bổ huyết : 22, 127, 7, 63, 113, 17, 50, 19, 37, 1, 290, 0 . ( Trần Cẩm K- 7).
Phác đồ 3:
- Lăn vùng mắt 2 lần một ngày ( lăn kỹ vùng gan và mắt, vùng phản chiếu mắt trên toàn bộ cơ thể )
- Tối ngâm chân nước nóng ( Chu thị Hòa – K- 10)
Phác đồ 4: Day ấn huyệt 34, 6 - lăn các sinh huyệt quanh mắt.
Phác đồ 5: Day ấn 34, 1, 127 và lăn quanh mắt.
Phác đồ 6 : Day ấn 267, 130, 388
LẸO MẮT
Điều trị :
Phác đồ 1: Day ấn huyệt 195, 16, 130, 3, 38, 17.
Phác đồ 2: Ấn day 332, 38 ( Phạm Chất Phác)
Phác đồ 3: Dán cao huyệt 38 và dán ngay mụt lẹo ( Tạ Minh)
NHỨC MẮT- MỎI MẮT
Tình trạng này thường xảy ra sau khi ta tập trung nhìn quá lâu ( như làm việc với máy vi tính, xem TV)
Kinh nghiệm điều trị:
LIỆT MẮT MÉO MỒM
Tình trạng: Bệnh nhân bị liệt mắt méo mồm bên phải, ăn uống khó khăn. Nhiễm lạnh vì tắm đêm
Điều trị :
Giải cảm lạnh : Xoa dầu từ huyệt 8 xuống 143 và dọc đường pháp lệnh hai bên viền mũi, xong al81n từ 8 – 143 và hai bên viền mũi.
Chữa Liệt mắt:
Lăn vùng lông mày và vùng dưới mắt phải – trái khoản 5 phút.
Ấn các huyệt: 34, 267, 217 ba lần cách khoản mỗi lần 7 cái, sau 25 phút bệnh nhân đã tự nhắm mắt được, chỉ còn hở khoản 1/10.
Chữa méo mồm :
Day ấn huyệt 127, 5, 37, 20, 0.
Dùng ngón tay cái ấn mạnh vào huyệt Giáp Xa, cả 2 bên.
Tiếp tục điều trị theo phác đồ trên và dùng lòng bàn tay đẩy má bên phải bệnh nhân lên và kéo má trái xuống mỗi lần 7 cái.
Thêm các huyệt chống co cơ : 74, 64, 156, 19, 16.
Sau 15 ngày điều trị, bệnh nhân khỏi hoàn toàn.
Lê Quảng – K.2
|
Thứ Năm, 30 tháng 1, 2014
Sách "Thực hành Diện Chẩn " (Phần 3.4)
Sách "THỰC HÀNH DIỆN CHẨN " (Phần 3.3)
Sách "THỰC HÀNH DIỆN CHẨN " (Phần 3.2)
![]() |
NHỨC GÓC TRÁN
Nguyên nhân:
Nhức trán hay còn gọi là nhức đầu có nhiều mức độ, tình trạng và nguyên nhân khác nhau.
Vì thế trong thủ pháp này, ta chỉ dùng để điều trị khi bị nhức đầu một bên trán ở mức độ trung bình, nó có thể khác với tình trạng Nhức một bên đầu (Migraine) nếu chỉ xẩy ra nhất thời, trong một thời gian ngắn thì đó là nhức đầu bình thường và lúc đó ta có thể giải quyết như sau:
Tác động lên huyệt 34
NHỨC MỎI VÙNG CỔ - GÁY
Điều trị
Cách 1 : Day ấn huyết : 0, 106, 477, 65, 97, 99, 8, 37,50, 53, 127, 87
Cách 2 : Day ấn huyệt 26, 19, 8, 12, 106, 107, 20, 290
Cách 3 : Day, vuốt mạnh cổ tay bên phải ( Thường có hòn, cục và rất đau khi day bấm vào )
Nếu thường xuyên bị mỏi cổ thì nên xoa vuốt cổ tay mỗi ngày.
Cách 4 : Hơ khoảng cách giữa ngón trỏ và ngón cái ( thường hơ tay trái ) rồi hơ tiếp khoảng giữa ngón trỏ và hơ cổ tay.
Lăn trên đầu gờ mày - Ấn day huyệt 130
Lầy búa cao su gõ vào khớp vai
Cách 5 : Dùng que dò gạch trên đầu gờ mày hoặc dùng lăn nhỏ lăn trên đầu gờ mày
Hơ trên lưng bàn tay trái, nếu chưa khỏi hơ thêm trên lưng bàn tay phải
Cách 6 : Hơ ở cổ tay và day, hơ trên đầu mày
Ấn các huyệt : 65, 188, 240, 26
Cách 7 : Day ấn các huyệt : 0, 8, 37, 53, 127, 87, 65, 97, 99, 106, 477, 50
Cách 8 : Day ấn huyệt 324, 129, 131, 41, 235. Nếu nhức mỏi nặng : Ấn huyệt 290, 184, 278, 16.
MỎI GÁY
Cách 1 : Quay 2 cổ tay, cổ chân kết hợp ấn huyệt cổ tay
Gạch 2 bên gân gót chân ( gân Achille) rồi hơ ngải cứu
Cách 2 : Dùng cây lăn đồng nhỏ ( hoặc cây lăn cầu gai đôi nhỏ) lăn trên cổ tay và mu bàn tay.
ĐAU CỨNG CỔ GÁY
Cách 1 : Day ấn huyệt ; 188, 477, 34, 97, 98, 93, 100
Cách 2 : Day ấn huyệt : 16, 61, 287
Cách 3: Day ấn huyệt : 65, 8, 290, 127, 87
Kinh nghiệm học viên
1/ Gạch vùng gáy vai, Gạch huyệt 26 . Ấn huyệt: 127 – 16 – 106 – 26 ( Hồ thị Tuyết Phương)
2/ Vuốt từ huyệt 330 đến huyệt 505 ( Trần thị Tuyết Mai)
3/ Ấn, gõ huyệt 240, 195 ( Lý Phước Lộc)
4/ Day ấn huyệt 422 ( Phạm Chất Phác)
Bệnh nhân đau từ gáy phải kéo dài xuống chân phải :
1/ Hơ gân gót chân phải dọc theo đường đau và gạch trán. (Thu Trang )
VẸO CỔ
Vẹo cổ (torticollis) là một chứng bệnh thường gặp ở cả trẻ em và người lớn, gây đau đớn vùng cổ vai và đặc biệt tác động đến tâm lý do thẩm mỹ người bệnh nhất là ở nữ giới.
Có 3 hình thức:
Vẹo cổ bẩm sinh: do dị tật của cơ ức - đòn - chũm, chỉ điều trị được bằng phẫu thuật.
Vẹo cổ chấn thương: do sai khớp hoặc gãy đốt sống cổ thành mảnh.
Vẹo cổ dạng thấp: do nhiễm lạnh và xuất hiện đột ngột bởi triệu chứng đau cổ dữ dội.
Vẹo cổ co thắt: Có các triệu chứng đặc trưng như các vận động xoắn vặn cổ về một bên, do trạng thái co cơ, tăng nhanh trương lực và rung giật các cơ cổ, buộc cổ phải nghiêng về phía cơ co cứng, đồng thời xuất hiện các cơn co thắt cơ trong một vài giây. Giữa các cơn, đầu lại trở về tư thế vẹo cổ ban đầu. Căn nguyên của vẹo cổ co thắt rất phức tạp, có thể do nguồn gốc não, cơ (viêm cơ); xương hay xương khớp (tổn thương cột sống cổ thường được xác định bằng X quang; căn nguyên tâm lý (chứng máy cơ (tic) tâm căn (grasset).
- Vẹo cổ cấp: Đây là một thể đặc biệt của hội chứng cổ cục bộ do đĩa đệm, hư xương sụn cột sống cổ, đặc trưng bởi hai triệu chứng cơ bản là tư thế sai lệch và hạn chế vận động cột sống cổ.
Điều trị : Tác động lên huyệt số 16 – 65
TÓC
Tóc là một tập hợp gồm rất nhiều sợi có màu sắc ( Đen, nâu, vàng, đỏ..) và hình dáng ( Thẳng, xoăn ) khác nhàu tùy theo từng dân tộc. Trên đầu chúng ta có khoảng 100.000 sợi tóc. Mỗi sợi tóc bao gồm hai thành phần chính là Chân tóc và thân tóc.
Chân tóc : Ở phía dưới da đầu, chân tóc được chứa trong một cấu trúc dạng ống gọi là mao nang. Các tế bào mới được hình thành ở chân tóc. Sau khi phát triển và phân nhánh, chúng được đẩy lên da đầu và trở thành tóc nhìn thấy được..
Thân tóc Thân tóc được tạo bởi các tế bào cũ đã được đẩy ra do kết quả của việc các tế bào phát triển từ chân tóc. Cấu tạo của một sợi tóc bao gồm 10-40% là nước, các chất béo, hắc sắc tố (melanin) tạo màu tóc cùng một lượng nhỏ các vitamin và khoáng chất. Trong khi đó, chỉ riêng một loại protein dạng sừng, gọi là keratin, đã chiếm khoảng 60-90%. Một sợi tóc có 3 phần là:
1/Lớp biểu bì ngoài: hình thành nên lớp bề mặt bên ngoài của sợi tóc, phần biểu bì được tạo bởi các tế bào cứng, trong suốt và gối lên nhau như một lớp vẩy cá. Tình trạng nói chung của tóc được quyết định chủ yếu bởi tình trạng của lớp biểu bì này bởi chúng là lớp ngoài làm cho tóc chắc khoẻ và có khả năng phục hồi.
2/Lớp vỏ: là phần tạo nên lớp giữa của tóc, phần vỏ được bảo vệ bởi lớp biểu bì và cấu tạo bởi những sợi protein. Nếu lớp biểu bì bị hư tổn, lớp vỏ tóc sẽ trở nên dễ bị mất độ ẩm. Khi điều này xảy ra, tóc sẽ dễ bị chẻ ngọn và dễ hư tổn hơn.
3/Phần lõi: hay còn gọi là phần nhân, là phần phụ trong cấu trúc của một sợi tóc. Một điều đáng ngạc nhiên là sợi tóc hoàn toàn không bị yếu đi nếu thiếu phần lõi hoặc phần lõi bị đứt đoạn.
Tình trạng rụng tóc
Nếu số lượng tóc rụng mỗi ngày vượt quá 100 sợi thì bị xem là có tình trạng rụng tóc. Tuy nhiên, nhận định này cũng chỉ là tương đối vì người tóc dày thì có rụng nhiều hơn cũng không đáng lo, còn với người tóc thưa lại là cả một vấn đề. Ngoài ra, một số tác động cơ học thông thường như tết, búi quá chặt làm căng chân tóc nhiều lần và mạnh khiến tóc dễ bị rụng.
Để phòng tránh, ta không nên dùng lược quá cứng, không nên chải tóc quá nhiều lần trong ngày. Ngay cả gội đầu nhiều lần trong ngày, sấy tóc, để tóc ướt mà đi ngủ hoặc phơi nắng cũng làm gia tăng các tổn thương. Một thiếu sót hay gặp của chị em là ra nắng không che tóc, sẽ bị tổn thương bởi tia cực tím trong ánh nắng mặt trời. Nếu dùng thường xuyên hóa chất cũng gây hại cho sự phát triển của tóc như keo xịt tóc, dầu gội đầu, chất tẩy rửa... Khi loại bỏ những tác nhân đó thì tóc vẫn có thể mọc trở lại.
Nếu tóc bị nhiều bã nhờn, chất bã sẽ gây ngạt thở chân tóc.Tẩy gàu bởi gàu là các vi nấm tấn công gây viêm da đầu, rụng tóc. Cần lưu ý là các loại dầu gội đầu thông thường chỉ nhằm tạo độ trơn, bóng đẹp cho tóc, còn người bị rụng tóc cần dùng loại dầu gội đặc hiệu chứa vitamin và các chiết xuất từ thực vật, kích thích nuôi dưỡng da đầu và chân tóc.
Những phụ nữ đang mang thai, những người đang dùng thuốc chữa bệnh tăng huyết áp, tiểu đường hoặc thuốc ức chế miễn dịch thì tóc thường bị rụng nhiều hơn.
Điều trị rụng tóc:
Phác đồ cơ bản : Day ấn huyệt : 103, 127, 145.
Phác đồ 2: Day, ấn, dán cao : 37,39,50,107,175 ( Đào trường Khánh)
Phác đồ 3: Day ấn, dán cao: 0, 1, 3, 45, 300 ( Bùi Quốc Châu, Tạ Minh)
Có thể hỗ trợ thêm bằng việc gội đầu bằng nước bồ kết ( nướng) và vỏ bưởi.
Việc cào đầu thường xuyên giúp mạch máu lưu thông cũng giúp cho tình trạng rụng tóc giảm bớt.
Toa thuốc làm đen tóc
Hà thủ ô nấu nước rồi cô lại (bỏ xác) để tủ lạnh dùng dần. Mỗi bữa dùng một ly nhỏ pha thêm chút rượu có hòa mật ong, uống trước bữa ăn.
CÒN TIẾP
Sách "THỰC HÀNH DIỆN CHẨN " (Phần 3.1)
CHƯƠNG III
CHẨN TRỊ BỘ PHẬN NGOẠI VI
Để tiện tham khảo, chúng tôi tạm chia cơ thể con người làm ba phần là thượng vị ( phần trên) bao gồm các bộ phận : Đầu (tổng thể) cổ gáy, trán và tóc.
Trong phần này chúng ta se xem xét các bệnh chứng liên quan đến các bộ phận vừa nêu.
Phần trung vị là các bộ phận ở giữa của cơ thể người. Trong phần này chúng ta sẽ khảo sát các bệnh chứng thuộc về các bộ phận như Ngực, vai, vú, lưng, lưng, bụng, cánh tay và bàn tay.
Phần Hạ vị là các bộ phận ở phần dưới của cơ thể. Trong phần này chúng ta sẽ khảo sát về các bệnh chứng của các bộ phận như Mông, háng, đùi, đầu gối, cẳng chân, bàn chân và gót chân.
I. BỘ PHẬN THƯỢNG VỊ
1. Đầu – cổ gáy – trán – tóc
Đầu :
Đầu được xem là bộ phận quan trọng bậc nhất của con người, những tổn thương ở đây thường để lại những hậu quả nghiêm trọng thậm chí là cái chết. Các cơ quan điều khiển mọi hoạt động trong cuộc sống đều tập trung tại đây.
Trong quan điểm của Diện Chẩn, thì các tác động trên đầu (từ đỉnh đầu, vùng mặt phía trước, vùng chẩm và cổ gáy phía sau cũng như hai bên vùng thái dương và tai) đều có ảnh hưởng (phản chiếu và đồng ứng) đến tất cả các bộ phận ngoại vi và nội tạng trên cơ thể con người. Vì thế tất cả các Huyệt Đạo của Diện Chẩn đều tập trung trên vùng mặt và hai bên tai. Khi tác động vào các huyệt đạo này, có nghĩa là chúng ta đã tác động lên các bộ phận (Phản chiếu và đồng ứng). Trong phần này chúng ta sẽ lần lượt tham khảo các bệnh chứng liên quan đến đầu – cổ gáy – trán và tóc.
NHỨC ĐẦU
Chưa có bệnh chứng nào thông thường, phổ biến bằng NHỨC ĐẦU.Nhưng cũng Chưa có triệu chứng nào mà nguyên nhân phức tạp bằng. Vì thế thày thuốc ít quan tâm xem xét kỹ lưỡng, còn bệnh nhân thì thường tự chữa lấy bằng những phương thuốc được bạn bè mách sau khi đã khám nhiều thầy thuốc, bằng những thuốc điều trị NHỨC ĐẦU bán tự do có lẽ được tiêu thụ nhiều nhất thế giới.
Nguyên nhân
Theo Tây Y: Những danh từ: nhức đầu, vàng đầu, buốt óc chỉ là mức độ khác nhau. Nhức đầu thường ở các vị trí sau:Vùng trán, thái dương, đỉnh đầu, chẩm(occiput)không có giá trị nhiều về chẩn đoán.Chỉ có Nhức nửa đầu (migraine).Đau dây thần kinh số V là rõ rệt.Không thể kể hết nguyên nhân nhức đầu và phần lớn lại không tìm ra được nguyên nhân.
Theo một số tác giả thì nguyên nhân nhức đầu có thể là :
Do mạch máu như huyết áp tăng, chứng nhức nửa đầu, dị ứng,
Do chấn thương sọ não,
Do phản ứng vì bệnh:Tai, mũi, họng, xoang, răng, bệnh mắt(cận thị, viễn thị, ) bệnh cột sống, cổ hay có bệnh xa não (tiêu hóa, gan, mật, thận, sinh dục, nhiễm độc, thiếu máu).
Do rối lọan tinh thần, suy nhược thần kinh.
Đứng về phương diện điều trị, người ta phân biệt:
-Nhức đầu do một bệnh tìm thấy được,
-Nhức đầu đơn độc không tìm thấy nguyên nhân.
Nói nhung, có nguyên nhân hay không trừ vài nguyên nhân có thể điều trị khỏi hẳn như:Viêm xoang, răng, mặt, mắt phần lớn NHỨC ĐẦU khó khỏi hẳn, tái phát và cần điều trị triệu chứng bắng thuốc
Theo Đông Y: ĐẦU là nơi hội họp của các Kinh dương cũng là nơi tụ tập khí huyết của TẠNG PHỦ .Vì vậy NGỌAI CẢM hay NỘI THƯƠNG đều làm cho Mạch lạc mất điều hòa, khí huyết bị trở ngại mà sinh ra đau đầu.
Có thể do ngoại cảm tức là CẢM nhiễm tà khí của Phong, Hàn, Thử, Thấp làm cho Mạch Lạc cũng tắc, khí huyềt không thông.
Có thể do nội thương như: Tình chí không điều hòa làm cho can – khí xung nghịch nên ăn uống không điều độ làm cho đàm trọc uất kết lại, phòng dục không tiết chế làm cho Thận khí suy yếu dần.
Sau khi bệnh nặng đã khỏi, khí huyết còn suy yếu kém. Các nguyên nhân trên đều gây ra bệnh đau đầu.
Theo Diện Chẩn ĐKLP:
Nguyên nhân:
Nhưc đầu là bệnh phổ biến và do nhiều nguyên nhân, nhưng cũng không ngoài các yếu tố: Thần kinh, Nội tạng, Môi trường, Khí hậu, Sinh họat, Ăn uống. Cho nên muốn chữa có kết quả thì phải tìm hiểu xem nguyên nhân gây ra nhức đầu là do ở cơ quan, bộ phận nào hay do môi trường (khói xe, khói thuốc lá, thời tiết nóng nực, thiếu ôxy, nhiều gió) do thức ăn (nước đá, rau má, nước chanh, cam, nước dừa, rượu, cà phê, thuốc lá) hoặc sinh họat(quá căng thảng đầu óc, lo sợ, buồn rầu.).
Nhức đầu thường khởi phát do nhiều nguyên nhân, thông thường bắt đầu là các cơ đầu cổ căng thẳng. Nhức đầu cũng có thể là triệu chứng của một số bệnh như dị ứng, nhiễm khuẩn hoặc uống quá nhiều rượu. Hiện tượng co thắt hay giãn nở các mạch máu cũng như các thay đổi áp suất trong đầu (điều này có thể xảy ra khi thời tiết thay đổi) cũng có thể gây nhức đầu.
Triệu chứng:
Trên thực tế Nhức đầu có nhiều dạng do cảm giác của bệnh nhân ghi nhận được như nặng nề, ê ẩm, nhức buốt, nhức căng, nhức có cảm giác như có cái gì giật bên trong, nhức như thanh sắt xuyên qua đầu hoặc búa bổ vào đầu, nhức như niền xiết đầu, như như lồi mắt ra, nhức gân gáy lan ra hai vai, nhức sau chẩm, giữa đỉnh đầu, giữa trán, nhức ½ bên đầu…tùy theo kiểu đau và vị trí chỗ đau mà có cách chữa khác nhau.
Cũng giống Đông Y và Tây Y thì Diện Chẩn tìm nguyên nhân gây ra nhức đầu là do ở cơ quan, bộ phận nào và từ đó tìm cách chữa cùng lúc nguyên nhân và triệu chứng .
Ví dụ: Tìm ra chứng Nhức đầu của một bệnh nhân là do Huyết áp cao hoặc thấp thì chữa huyết áp là chính, đồng thời vẫn chữa triệu chứng nhức đầu.
Nhức đầu là một trong các tín hiệu báo động mạnh mẽ nhất của cơ thể, thường báo là đã có dấu hiệu "quá tải" cả về thể lực và tinh thần. Có nhiều loại nhức đầu và chúng khác nhau tùy thuộc vào nguyên nhân gây nhức đầu, vị trí của nhức đầu... Các chứng nhức đầu gồm có:
Nhức đầu đơn thuần: Thường nguyên nhân do stress, nhạy cảm với thời tiết hoặc các thay đổi áp suất trong bầu khí quyển, tăng huyết áp, sốt hoặc thiếu ôxy... khi đó đầu nhức như búa bổ, có tiếng ù nhẹ, có tiếng nhịp đập trong đầu...
Nhức đầu do căng thẳng: Nguyên nhân thường do căng cơ hoặc dáng đi sai lệch. Đau giống như đang bị hành hạ xảy ra ở thái dương, bắt đầu ở đằng sau đầu và cổ hoặc ở trán và lan tỏa ra khắp đầu.
Nhức đầu cụm: Đau như đâm chọc, nóng ran xảy ra ở một bên đầu và luôn luôn cùng một chỗ, thường không rõ nguyên nhân.
Chẩn đoán:
Dùng que dò để chẩn đoán các huyệt về thần kinh và nội tạng để biết đau do thần kinh hay nội tạng . Như dò thấy huyệt 124 – 34 đau, ta biết đó là do thần kinh căng thẳng. Nếu đau ở huyệt 50 ta biết là do huyết áp thấp. Thấy đau ở huyệt 26 – 8 biết là do Huyết áp cao, nếu đau ở huyệt 7 – 53 biết do kinh nguyệt không đều.
Điều trị
Các phương pháp đơn giản trị nhức đầu tự nhiên bao gồm vận động thư giãn, xoa bóp như massage... cũng đem đến hiệu quả khá tốt.
Tắm với nước ấm có thể làm dịu căng thẳng và thư giãn các mạch máu từ đó bớt nhức đầu. Nếu thêm một vài giọt tinh dầu sả pha vào với nước ấm cũng giúp làm bớt căng thẳng và bớt nhức đầu.
Bạn có thể làm giảm bớt nhức đầu bằng cách đắp khăn lạnh, tắm hơi, xoa bóp bấm huyệt hay thư giãn.. Thư giãn và tạo môi trường yên tĩnh êm dịu, tránh các kích thích bên ngoài, tắt mọi thiết bị điện tử như đài, tivi, điện thoại... Nếu sống ở một nơi quá ồn có thể tìm cách bịt tai lại, việc thư giãn sẽ tốt hơn nếu có sự trợ giúp của các kỹ thuật yoga...
Dùng QUE DÒ khám các huyệt về thần kinh và Nội tạng để biết đau do Thần kinh hay Nội tạng.
Ví dụ: Dò thấy huyệt 124-34 đau biết là nhức đầu do thần kinh căng thẳng hay do mất ngủ, hoặc thấy đau ở huyuệt 50 biết là do huyết áp thấp.Đau ở huyệt 26-8 biết là do huyết áp cao. Thấy đau ở huyệt 7-53-156 biết đau dokinh huyệt không đều.
Vì vậy, khi nói về nhức đầu, ta cần phải biết rõ về: Tình trạng sức khỏe của người bệnh trước đó, các tổn thương về thần kinh, các sang chấn về tâm thần và khu vực xảy ra nhức đầu, vì mỗi khu vực biểu hiện cho một tình trạng khác nhau.
Ta cũng cần xem đó chỉ là cơn nhức đầu nhất thời hay đây là một tình trạng mãn tính kéo dài nhiều năm và cuối cùng là xem đến các dấu hiệu khác như có nấm hay viêm trên da đầu.
NHỨC ĐỈNH ĐẦU :
Cách thứ nhất : Day ấn các huyệt : 103, 50, 87, 51, 61, 127, 19, 37, 126, 103, 37, 50, 51, 87.
Cách thứ hai : Hơ vùng huyệt 103 hay huyệt 126
Cách thứ ba : Hơ đầu ngón tay giữa của bàn tay trái .
Cách thứ tư: Hơ đầu gu xương ngón tay giữa của bàn tay trái nắm lại
Cách thứ năm : Lăn các đầu ngón tay chụm lại.
Nếu không rõ nguyên nhân gây nhức đầu có thể Day ấn thêm Huyệt 275, 288, 87.
NHỨC ĐẦU CHÓNG MẶT
Nguyên nhân:
Tình trạng này có nhiều nguyên nhân khác nhau:
Do suy dinh dưỡng hay các cơ quan tiêu hóa bị bệnh – Do thiếu máu não, thiếu máu cơ tim – Do thiếu ngủ - Suy nghĩ căng thẳng.
Do thời tiết thay đổi đột ngột, gay gắt khi cơ thể đang yếu, mệt – Ngủ cạnh cửa sổ hay mái hiên trong những đêm có gió, sương lạnh.
Điều trị
Cách 1 : Hơ đầu ngón tay giữa bàn tay trái - Ấn, day và hơ các huyệt: 19, 63, 127, 0
Cách 2 : Ấn hơ các huyệt : 300, 19, 127, 0, 63, 26
Cách 3: Xoa dầu buổi sáng và dán cao Salonpas vào buổi tối các huyệt: 26, 103, 106, 50, 61, 124, 34.
NHỨC ĐẦU TRƯỚC TRÁN
Điều trị:
Cách 3 : Day ấn các huyệt : 60, 106, 1, 50, 39, 51, 87
ĐAU SAU ĐẦU GÁY
Điều trị : Day ấn các huyệt 560, 8, 1, 37, 41, 50, 53, 127, 22, 87
NHỨC ĐỈNH ĐẦU
Điều trị:
Phác đồ 1: 37, 50, 51, 87, 103, 126
Phác đồ 2: 19, 37, 50, 51, 61, 87, 103, 127
Hơ đầu ngón tay giữa ( đồng ứng với đầu)
Lăn đầu gu xương ngón giữa ( Bàn tay nắm lại )
Lăn các đầu ngón tay chụm lại.
Phác đồ 1 Phác đồ 2
NHỨC ĐẦU MỘT BÊN
Nhức đầu migraine (nhức nửa đầu) là một trong những vấn đề thường gặp nhất ở phòng cấp cứu. Migraine được gây ra từ sự thay đổi trên não và những mạch máu xung quanh.
Nhức đầu migraine thường kéo dài từ 4 đến 72 giờ và tần số xuất hiện thay đổi từ hằng ngày đến ít hơn một lần mỗi năm. Nhức đầu migraine ảnh hưởng đến 15% dân số. Nhức đầu migraine gặp ở nữ nhiều hơn 3 lần so với nam giới. Có trên 80% người nhức đầu migraine có người thân trong gia đình cũng bị tương tự.
Nguyên nhân:
Nguyên nhân chính xác của nhức đầu migraine vẫn chưa được biết rõ, tuy nhiên thường là do giãn nở các mạch máu và phóng thích các chất hóa học gây viêm và đau.
Dopamine và serotonin là một trong những nguyên nhân gây ra migraine. Bình thường, những chất hóa học này được tìm thấy trong não và có thể làm các mạch máu hoạt động bất thường nếu chúng xuất hiện với số lượng bất thường hoặc nếu những mạch máu nhạy cảm hơn với chúng.
· Một số loại thức ăn như chocolate, bơ, đậu phộng, rượu, gia vị cay gắt hay ăn uống thất thường cũng có thể gây ra tình trạng này.
· Stress và căng thẳng cũng là những yếu tố nguy cơ. Ngườ ta thường bị nhức đầu migraine trong suốt thời gian tăng cảm xúc hoặc trong trạng thái stress.
· Sử dụng các viên thuốc ngừa thai là một yếu tố khởi phát thường gặp. Phụ nữ có thể bị nhức đầu vào giai đọan kết thúc vĩ thuốc.
· Hút thuốc cũng có thể gây ra nhức đầu migraine hoặc khó khăn trong quá trình điều trị.
Triệu chứng
Triệu chứng rất đa dạng ở từng người. Có năm giai đoạn sau:
Giai đoạn tiền lâm sàng: có thể chỉ là sự thay đổi tâm trạng( ví dụ: cảm thấy hứng khởi, chán nản hay dễ cáu giận) hoặc sự thay đổi kín đáo của các giác quan (vị hoặc mùi lạ).
Giai đoạn tiền triệu: thường là rối loạn thị giác và xuất hiện trước giai đoạn nhức đầu. Nhiều bệnh nhân có thể thấy những điểm mù hoặc những hoa văn hay tia sáng, ánh sáng nhiều màu sắc, hoặc giảm thị lực ở một bên
Giai đoạn nhức đầu: Mặc dù nhức đầu migraine thường xuất hiện một bên đầu nhưng cũng có khoảng 30-40% bệnh nhân nhức cả hai bên. Đau nhói cũng có thể có. Hơn 80% bệnh nhân cảm thấy buồn nôn và có thể nôn. 70% bệnh nhân trở nên nhay cảm với ánh sáng (sợ ánh sáng) và âm thanh. Giai đoạn này kéo dài từ 4-72 giờ.
Giai đoạn kết thúc: ngay cả khi không chữa trị thì cơn đau thường sẽ tự khỏi sau khi điều trị.
Sau cơn đau: một số dấu hiệu của nhức đầu migraine (như chán ăn, giảm khả năng tập trung hay mệt mỏi) có thể kéo dài một thời gian sau khi cơn đau biến mất.
Cần lưu ý khi có các triệu chứng sau:
· Cơn nhức đầu lúc nặng lúc nhẹ , kéo dài trong nhiều ngày.
· Nhức đầu kèm theo dấu hiệu cảm cúm, đột quỵ.
· Sụt cân nhiều , suy nhược cơ thể, yếu liệt cơ.
Nên đến phòng cấp cứu khi có những dấu hiệu sau:
· Có cơn đau đầu nặng nề.
· Nhức đầu liên quan đến chấn thương ở đầu – mất cảm giác.
· Sốt nóng, giảm sự tỉnh táo hoặc lũ lẫn.
· Liệt một bên hay xuất hiện tai biến.
Điều trị
Phác đồ 1 : 3, 41, 51, 54, 55, 56, 100, 130, 180, 184.
Phác đồ 2: 41, 131, 235, 320, 437.
Phác đồ 3: 41, 50,51, 61, 124, 180.
Phác đồ 4: 14, 15, 16, 26, 51, 61, 179, 240.
Phác đồ 5: 184, 100,180,61, 3, 54, 41, 55, 56, 51, 130
Các biện pháp khác:
Cách 1 : Khai thông huyệt đạo 41, 50 – Chấm BenGay và hơ điếu ngải cứu cạnh đầu ngón tay giữa bên tay phải, rồi khai thông huyệt đạo ở sau gáy ( nửa bên phải) lần 2 hơ thêm ở gáy.
Cách 2 : Dùng búa nhỏ (Đầu cao su) gõ nơi đau.
Nhức đầu bên phải: Hơ mu bàn tay phải ( hơ ½ nắm bàn tay)
Đau bên phải dùng ấn hay gõ
Nhức đầu bên trái: Hơ mu bàn tay trái ( Hơ ½ nắm bàn tay)
Còn đau bên trái thì dùng các hơ dán hay xức dầu
Phác đồ 5: 41, 131, 235, 324, Đau bên nào dùng huyệt bên ấy.
Nặng đầu : Gõ bằng búa , đầu cao su các huyệt: 188, 51, 100, 14, 126.
Kinh nghiệm điều trị của các học viên:
1/ Lăn vùng trước trán và vùng huyệt 26 ( Ấn đường )
Dùng điếu ngải cứu hơ huyệt 121, 36 và huyệt Liệt khuyết
Lăn toàn bộ nửa đầu bên đau Bs. Trần Viết Lan ( khóa 7 )
2/ Dùng que dò chấm dầu cù là gạch ngắn tại 6 vùng Phản chiếu hệ bạch huyết. Sau khi gạch xong bệnh nhân thấy nhẹ đầu, nhẹ nhõm bớt đau liền. - Bùi Quang Hưng ( khóa 110)
CÒN TIẾP
|
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)

.jpg)


.jpg)
.jpg)