Hiển thị các bài đăng có nhãn DIỆN CHẨN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn DIỆN CHẨN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 14 tháng 1, 2016

33 giản thuật ( Phần +hết)

Chú thích ảnh: Hơ ngãi cứu ngón tay
Kỳ này là 3 giản thuật cuối cùng, kết thúc bài học:
31. Hơ ngải cứu trên sinh huyệt trên mặt và khắp cơ thể.
Trước hết, hơ là một trong những kỹ thuật trị liệu căn bản của phương pháp Diện Chẩn. Ta chủ yếu dùng Điếu ngải cứu (hay nhang ngải cứu) hay bất cứ vật nào tỏa nhiệt như thuốc lá, nhang loại lớn khi không co điếu ngải cứu, tuy nhiên hiệu quả sẽ kém hơn vì không đủ độ nóng. Sau khi đốt cho cháy đỏ ở đầu điếu ngải cứu (không để cháy ra ngọn lửa) ta cầm điếu ngải cứu bằng 3 ngón tay cái, trỏ và giữa. Lòng bàn tay hơi ngửa ra, và dùng ngón út đè lên mặt da làm điểm tựa, để đầu nóng đỏ cách da khoảng 1 cm, di chuyển thật chậm trên vùng da và để ý xem đến khi nào bệnh nhân có phản ứng mạnh (Lúc đó, bệnh nhân sẽ cảm thấy nóng rát hay nóng buốt và có thể kêu lên) Ta lập tức nhấc điếu ngải cứu ra khỏ mặt da trên 2 cm (khỏi tầm hút nhiệt của Sinh huyệt) và đè tay lên chỗ vừa hơ cho bệnh nhân bớt cảm giác nóng. Xong ta lại tiếp tục hơ lại chỗ cũ 2 lần nữa. Làm 3 lần là đủ (hơ nhiều gây nóng rát dẫn đến phỏng da)
Lưu ý: Tùy theo khí hậu nóng hay lạnh và với những người chưa câyn chịu nóng (như người ở các xứ ôn đới) ta không kéo dài lâu thời gian hơ. Với những học viên mới học thì không nên thực tập hơ trên vùng mặt.
Tác dụng: Thủ pháp này rất hiệu quả trong nhiều loại bệnh chứng, nhất là những bệnh do lạnh gây ra như cảm lạnh, thấp khớp, viêm mũi dị ứng, viêm xoang, đau – nhức – tê.. Các bệnh do ứ huyết như sưng, bầm do té ngã, chấn thương, u nhọt, mụn mủ, đau thần kinh tọa, eczema, zona (dời ăn). Đặc biệt, có thể áp dụng trong các trường hợp hậu phẫu (sau khi chữa bằng giải phẫu theo tây y) vì nó có tính cầm máu, làm khô nước vàng (nước chảy ra từ vết thương, mủ) Nó giúp sát trùng, tiêu viêm… Do đó làm vết thương mau lành hơn.
Chỉ nên dùng cách này mỗi ngày một lần, nếu dùng nhiều lần hơn cần có sự trao đổi ý kiến hay giám sát của các thày thuốc, hay học viên có kinh nghiệm trong Diện Chẩn. Vì cách này dù có hiệu quả cao, nhưng nếu lạm dụng, sẽ làm cho bệnh nhân bị khô, nóng, có thể sinh ra nổi nhọt. nhức đầu, mất ngủ, táo bón …
Nếu gặp trường hợp này, nên uống các loại thức ăn mát để giải trừ như nước dừa, rau má, bột sắn. Hay có thể ấn bộ giải nhiệt (26, 3, 143, 51, 14, 15, 16).
Cách dùng điếu ngải cứu: Điếu ngải cứu hay thanh ngải cứu có hình thức như một cây nhang loại lớn nhưng ngắn, và được đóng gói thành từng bịch (12 điếu /bịch). Đây là một công cụ đươc sử dụng trong lĩnh vực châm cứu (Châm: dùng kim châm vào huyệt – Cứu: dùng ngải cứu hơ trên vùng huyệt) của Đông y. Được vận dụng trong Diện Chẩn, Ngải cứu là một dụng cụ dùng để hơ không chỉ trên huyệt và các vùng có huyệt hay các vùng đồng ứng với các bộ phận nội tạng và ngoại vi trên cơ thể nhưng với một kỹ thuật đặc biệt của Diện Chẩn gọi là Hơ theo Sinh huyệt.
ngaiĐiếu ngãi cứu
tat Ống tắt ngãi cứu
33 giản thuật (tiếp theo+hết)  Cách hơ
32.Hơ máy sấy tóc trên cơ thể (bụng, ngực, cổ, gáy, vai, lưng, lòng bàn tay, chân…). Tác dụng làm giảm đau, giảm sưng, kích thích vi mạch máu hoạt động nuôi mô tại chỗ.

Kết quả hình ảnh cho Hơ máy sấy tóc trên cơ thể

33. Chườm nóng bằng túi chườm nóng (dùng điện hay nước nóng) tại chỗ đau. Tác dụng làm giảm đau, giảm sưng, kích thích vi mạch máu hoạt động nuôi mô tại chỗ. Chú ý: Luôn kiểm soát tốt nhiệt độ, phòng tránh phỏng da.
Kết quả hình ảnh cho Chườm nóng bằng túi chườm nóng


33 Giản thuật ( Phần 9 )

Kỳ này xin giới thiệu 6 giản thuật  là:
25.Ấn tê (Nhất dương chỉ) bằng cây Giọt sương có đầu bi nhỏ  (ảnh dưới)
image001
26.Chà đầu, ngực, bụng, lưng, mông, đùi… bằng con bọ lớn/nhỏ hay cây Mỹ nữ.
image002
-Con bọ lớn:Chà vùng lưng, bụng, đùi. Có công dụng làm lưu thông màu huyệt mạnh, làm tan mợ bụng, làm nóng người. Có thể dùng khi đang tắm để giúp tan mỡ bụng, làm eo thon.

image003


image004

Cây Mỹ nữ
27.Chà mặt bằng bàn chải tiên lớn/nhỏ có một đầu bằng đồng.

image005

-Bàn chải tiên lớn: Chà xát hay lăn trên đầu, mặt để kích thích máu huyết, làm min da. Đặc biệt: đầu chải đinh inox thuộc Dương làm nóng người. Đầu đồng láng thuộc Âm, làm mát người

image006

-Bàn chải tiên nhỏ: Chà xát hay lăn trên da mặt để kích thích các mao mạch nhỏ dưới da, làm min da, bớt mụn. (Hai đầu  inox / đồng láng có công dụng như Bàn chải tiên lớn)
28.Chà mặt bằng cây đĩa bay nhỏ (Josephine) và chà bàn chân bằng cây đĩa bay lớn .
image007

Có 2 kích cở. Loại lớn dùng chà sát trên lưng, vai, cổ, gáy, cánh tay, chân…Loại mini dùng chà xát vùng mặt (trán, 2 bên mũi, cằm…). Có công dụng làm da, kích thích các vi mạch dưới da, làm thư giãn thần kinh… nên là dụng cụ hữu ích để làm đẹp.
29.Ủi mặt bằng con cá nhỏ (cây Napoleon) có đầu đồng hay nhựa – Ủi trên lưng, mông, đùi, bắp chân bằng con Cá lớn (Napoleon
image008
Con Cá nhỏ: Đầu dò dùng để dò huyệt. Đầu mũ nhựa dùng để ủi, đẩy trên vùng mặt, cánh tay có tác dụng phòng bệnh. Kích thích lưu thông khí huyết.
image009
Con Cá lớn: Dùng để đẩy, ủi trên cánh tay, bắp chân – Đặc biệtphần đuôi (lõm) có thể đẩy, ủi cánh tay, cổ chân. Làm lưu thông khí huyết. Có tác dụng thư giãn và phòng bệnh.
30.Day phớt ( cách mặt da 1 – 2mm) các sinh huyệt ở mặt hay trong người bằng cây dò day, còn gọi là cây day phớt
image010

Chữa nhiều bệnh khác nhau, cần làm ở các trường hợp ngất xỉu, ói mửa, tiêu chảy, tăng huyết áp.

33 giản thuật ( Phần 8 )

 24.Xâm mứt gừng bằng cây xâm 2 đầu nhỏ.
Đây là một kỹ thuật đơn giản nhưng hiệu quả nhanh, có thể dùng để chữa bệnh hoặc hổ trợ để chữa các bệnh khó, mãn tính, với mục đích là giúp cho những người lớn tuổi, người bắt đầu học Diện Chẩn hay các bạn không có khả năng nhớ nhiều phác đồ và khả năng tìm đúng huyệt có thể dùng kỹ thuật này để trị bệnh hay làm giảm đau cho mình hoặc người khác một cách dễ dàng, nhanh chóng và an toàn.
Tôi đã nghĩ ra và bắt đầu dùng kỹ thuật này từ năm 2002-2003 ở Pháp.
Lúc đó, tôi gặp một ca bệnh mà tôi chưa gặp bao giờ: bệnh ve chó (tức là người bệnh bị con ve ở chó cắn, sinh ra ngứa ngáy, đôi khi làm sốt). Bệnh này rất khó trị và Tây y cũng chưa có thuốc đặc trị nên tôi không có sẵn phác đồ điều trị, vì vậy mới thử dùng cây dò day xâm thẳng góc khắp nơi trên mặt bệnh nhân, tương tự như các bà nội trợ Việt Nam xâm gừng để làm mứt xưa nay và bất ngờ thấy bệnh nhân đạt kết quả tốt. Thấy vậy, tôi đã thử dùng kỹ thuật đơn giản này để trị nhiều bệnh nhân lúc đó với nhiều chứng bệnh khác nhau, như: viêm xoang, đau lưng, đau đầu, đau thần kinh tọa.v.v… Và tôi rất ngạc nhiên khi thấy họ hết bệnh hoặc giảm bệnh rõ rệt một cách nhanh chóng, hơn cà dùng phác đồ điều trị.
Sau đó, tôi đã đặt tên cho kỹ thuật này là ‘xâm mứt gừng’. Gần đây tôi thấy chữ này có vẻ bình dân quá và khi dịch ra tiếng nước ngoài rất khó vì người ta không có kiểu làm như mình nên tôi mới đặt cái tên khác, nghe có vẻ văn chương hơn – Đó là ‘Mãn thiên hoa vũ’, nghĩa là ‘mưa hoa đầy trời’, ám chỉ dùng cây dò xâm khắp nơi trên da mặt hay tại chỗ đau trên cơ thể chứ không chỉ xâm ở trên MẶT.
Kỹ thuật này thoặt nghe thì có vẻ rất đơn sơ vì không cần đến đồ hình hay huyệt đạo gì cả nhưng hiệu quả nhiều lúc kỳ diệu đến độ gây bất ngờ cho người chữa bệnh lẫn người bệnh.Vi nó không những đưa đến kết quả NHANH CHÓNG mà còn KHÔNG ĐAU, DỄ LÀM và HIỆU QUẢ TRÊN NHIỀU LOẠI BỆNH KHÁC NHAU, như giảm đau chung cho các loại bệnh và bệnh bất cứ ở bộ phận nào,sõi bàng quang, đau thần kinh tọa, thoát vị đĩa đệm, tiểu gắt, tiểu xón nhiều lần trong ngày do u xơ tuyến tiền liệt, táo bón, đau cột sống, đau thắt lưng, viêm khớp, bệnh Gút, đau đầu, cảm sốt.v.v…
Sở dĩ thủ pháp này có thể giải quyết nhiều loại bệnh chứng khác nhau là vì nó có tác dụng TÁN KHÍ. Mà nền tảng của Đông y là KHÍ HÓA, tức vạn vật đều do KHÍ mà HÓA THÀNH, kể cả vũ trụ này. Cho nên khi ta dùng CÂY DÒ có ĐẦU RẤT NHỎ (nhỏ hơn cây dò day mà các bạn đang dùng nhưng không có đầu bi) mà xâm như bạn xâm gừng để làm mứt, thì nó sẽ tạo ra tác dụng khiến LÀN KHÍ TAN RA (TÁN KHÍ), tức là khí của khối u hoặc của những chỗ bế tắc bị tan ra thì có thể chỗ đang đau, nhức, tức, lói hay tụ thành khối u, hòn, cục… sẽ phải tan đi và lập lại tình trạng bình thường như trước khi bị bệnh. Đó là cơ chế bệnh học – theo Đông y – giải thích tại sao mà Kỹ thuật Xâm mứt gừng lại chữa được bệnh hoặc cắt cơn đau nhức một cách nhanh chóng. Đặc biệt là các bạn có thể xâm trực tiếp vào chỗ đang có bệnh hay đang đau nhức trên cơ thể, chứ không chỉ xâm gián tiếp lên mặt.
Ngoài ra, theo luật Toàn thể hay Toàn diện, tuy bệnh nhân đau chẳng hạn như ở bàn chân, bạn vẫn cò thể xâm trực tiếp ở toàn bộcái chân hay đồ hình phản chiếu nguyên cả cái chân, gồm: mông, háng, đùi, đầu gối, cẳng chân và bàn chân, chứ không chỉ xâm ở bàn chân mà thôi. Lý do là trong cơ thể, tất cả các bộ phận đều có liên quan với nhau theo thuyết Nhất nguyên trong Diện Chẩn (Tất cả là Một/ Một là Tất cả). Tất nhiên đó là khi bạn có nhiều thì giờ hoặc khi xâm tại chỗ thì không hiệu quả, bạn mới phải chữa mở rộng ra như thế.
Tuy nhiên mọi khám phá mới đều đang ở phía trước.Vì đây là giải pháp chữa mới, thông qua các đồ hình phản chiếu trên mặt hoặc các đồ hình trên toàn thân, hay trong phạm vi toàn bộ mặt.
Có thể nói đây là kỹ thuật mới nhất từ trước đến nay và cũng thuộc loại ưu việt nhất vi hội đủ nhiều tiêu chuẩn cao của Diện Chẩn đề ra, như: Dễ làm, Ít đau hoặc Không đau,Tạo cảm giác sãng khoái hay dễ chịu khi làm, Hiệu quả nhanh và bền,Chữa nhiều loại bệnh khác nhau, Ít tốn kém.v.v…
Cách làm như sau:
1/Chọn dụng cụ mới, rất đặc biệt, được tôi đặt tên là GIỌT MƯA, vì khi liệu pháp có tên Mưa hoa đầy trời thì dụng cụ của nó phải có tên là Giọt mưa mới phù hợp.
2/Dụng cụ này có hai đầu (nhưng không có đầu bi như cây Dò huyệt mà các bạn đang dùng), một đầu nhỏ khoảng 1mm và đầu kia khoảng 1,6mm, để dành cho những người thích êm, nhẹ hơn. Đầu 1mm có tính Dương vì nó gây ra cảm giác ấm, nóng khi xâm vào da một lúc, còn đầu kia to hơn thì lại không cho cảm giác như thế khi xâm, nên gọi nó là đầu Âm.
3/Có mấy cách trị liệu khác nhau:
a/Xâm khắp mặt không chừa chỗ nào, từ trán xuống cằm. Xâm nhặt (tức là khít các chỗ xâm) chứ không xâm thưa. Cho dù bệnh gi cũng làm vậy, tự nhiên bệnh sẽ giảm hoặc khỏi. Cách xâm này là dễ nhất vi không cần đồ hình hay huyệt đạo nhưng lại mất nhiều thì giờ cho nên trên thực tế ít ai chịu làm khắp mặt, dù nó rất hay.
b/Xâm theo đồ hình trên mặt hay ở chỗ khác trên cơ thể (bàn chân, loa tai, khớp vai, vai, lưng, cổ ,cổ gáy, da đầu.v.v…), hay tại chỗ đang đau hoặc có bệnh. Nhưng cần nhớ trước đó phải dùng cây ỦI 5 CHIA ủi trên các vùng của đồ hình phản chiếu có liên quan đến các bộ phận đang bị đau nhức hay có bệnh để tìm các vùng nhạy cảm. Khi gặp chỗ có phản ứng, tức là đau hay nổi cộm, cứng hay bất thường dưới da thì dừng lại và lấy cây Giọt mưa (tức cây xâm mứt gừng) xâm chỗ mà bệnh nhân kêu là đang đau và khi xâm thi có cảm giác châm chích. Xâm mỗi nơi độ 30-40 cái (hoặc hơn) rồi dừng, hỏi bệnh nhân xem kết quả thế nào. Nếu bệnh nhân cho biết đã đỡ đau nhức hay tê mỏi từ 30% trở lên thì tiếp tục, còn nếu không bớt gì cả hay bớt quá ít (dưới 30%) thì bỏ qua, đi tìm chỗ khác mà xâm.
Vi dụ: bệnh nhân bị đau chân, lết đi không nổi như bị đau thần kinh tọa chẳng hạn thì ta sẽ lấy cây ‘Ủi 5 chia’ ủi trước ở vùng phản chiếu chân của Đồ hình Dương hoặc Đồ hình Âm. Khi thấy chỗ nào mà bệnh nhân kêu đau, ta sẽ dừng lại xem bệnh nhân bị đau chỗ nào nhiều nhất thì ta lấy cây Giọt mưa ra xâm nhẹ nhàng và liên tục (Lưu ý: Nếu xâm mạnh tay quá có thể sẽ làm da bệnh nhân bị rướm máu) vào nơi mà “cây 5 chia” ủi thấy bệnh nhân kêu đau. Xâm chừng 30 tiếng đếm thì dừng lại, hỏi bệnh nhân xem kết quả ra sao.Nếu kết quả không cao thi phải đổi liền qua Đồ hình khác. Nếu bệnh nhân cho biết kết quả cao hơn 30% thì tiếp tục xâm cho đến khi đạt kết quả 80 – 90% thì dừng.
c/Ta cũng có thể Xâm trên huyệt thay vì Ấn hoặc Day.Ví dụ: đối với một bệnh nhân bị sõi Bàng quang ta có thể xâm huyệt 87 ở vùng cằm (vì ụ càm tương ứng với bàng quang tức bọng đái) và xâm huyệt 19 vì huyệt 19 làm điều chỉnh sự nở cơ trơn và cơ vòng khiến cho hạt sõi phải bị đẩy ra theo đường tiểu.
d/Ta có thể xâm trực tiếp nơi bộ phận đang có bệnh như đầu gối, bã vai, mông, da đầu,quanh mặt.v.v…Nói gọn lại là “ĐAU ĐÂU XÂM ĐÓ”. Tuy nhiên CẦN PHẢI THEO DÕI SAT SAO, XEM SAU KHI XÂM ĐỘ TRÊN DƯỚI 30 TIẾNG ĐẾM, bệnh nhân có cảm thấy bớt đau hay dễ chịu không. Nếu bớt hơn 30% thi tiếp tục, còn không kết quả hoặc kết quả quá ít, hay tình trạng bệnh trở nên xấu hơn thì ngưng và đổi qua chỗ khác hoặc thủ pháp khác.
e/Ta có thể KẾT HỢP VỚI PHÁC ĐỒ 6 VÙNG PHẢN CHIẾU HỆ BẠCH HUYẾT HAY CÁC PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ HOẶC HỔ TRỢ TRƯỚC KHI XÂM hoặc HƠ NGẢI CỨU TẠI CHỖ VỪA XÂM. Kết quả sẽ tốt hơn và bền hơn. Ta cũng có thể kết hợp xâm TRỰC TIẾP tại chỗ đang có bệnh và nơi phản chiếu cơ quan hay bộ phận đang có bệnh dựa trên các ĐỒ HÌNH tương ứng với bộ phận đang bị bệnh.
f/Trên thực tế, thỉnh thoảng có hiện tượng ta xâm chỗ này mà triệu chứng bệnh lại chạy sang chỗ khác. Để tránh tình trạng như vậy tiếp diễn, ta phải ‘khóa’ nó lại bằng cách ấn hoặc dán cao hai huyệt số 0 hoặc hơ ngải cứu ngay sau khi xâm.
Trên đây là một cách chữa bệnh cũ nay được phổ biến như một kỹ thuật mới với tên gọi mới là MÃN THIÊN HOA VŨ, đặc biệt bằng một dụng cụ mới có tên là cây “GIỌT MƯA” đi kèm cây “5 CHIA”
*Cây “GIỌT MƯA”: Dụng cụ này có hai đầu, một đầu nhỏ khoảng 1mm và đầu kia khoảng 1,6mm.
image038
*Cây “5 CHIA” hay cây ỦI (ảnh dưới)
image039
Cần phân biệt cây GIỌT MƯA với cây Giọt Sương:
-Cây Giọt mưa có 2 đầu, dùng cho thủ pháp Xâm mứt gừng
– Cây Giọt sương có 1 đầu bi nhỏ, dùng cho thủ pháp Ấn tê (Nhất dương chỉ) .
Đây là kỹ thuật RẤT ĐƠN GIẢN, DỄ LÀM VÀ MANG LẠI HIỆU QUẢ RẤT CAO VÀ NHANH TRÊN NHIỀU LOẠI BỆNH KHÁC NHAU.Tuy nhiên cần lưu ý đối với các bệnh nhân bị huyết áp thấp hay suy nhược cơ thể thì không nên xâm nhiều quá và trước khi xâm phải dùng đầu Dương cây Sao chổi gạch 6 vùng phản chiếu hệ bạch huyết để người khỏe lên và huyết áp cũng được nâng lên. Nếu quên làm 6 vùng phản chiếu hệ bạch huyết trước, khiến bệnh nhân bị mệt hay chóng mặt thì các bạn phải dùng cây dò gạch khắp mặt 2 – 3 lần rồi gạch 6 vùng phản chiếu hệ bạch huyết để nâng huyết áp lên và làm bệnh nhân khỏe lại (trong trường hợp nhẹ, ta có thể ấn huyệt 19 và huyệt số 6 để nâng huyết áp lên cho người khỏe lại).
Với kỹ thuật Mãn Thiên Hoa Vũ/Xâm Mứt Gừng, ta có thể ĐẠI CHÚNG HÓA DIỆN CHẨN MỘT CÁCH NHANH CHÓNG HƠN NỮA, GIÚP CHO NHIỀU NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG LỢI ÍCH TỪ PHƯƠNG PHÁP NÀY MỘT CÁCH TỰ NHIÊN VÀ ÍT TỐN KÉM NHẤT.

NHẮC LẠI DANH SÁCH 33 GIẢN THUẬT
1.Chà mặt bằng khăn nóng
2.Quay cổ tay
3.Xoa mặt /xoa chân
4.Vô chiêu (dán cao Salonpas khắp mặt) 5.Gạch 6 vùng phản chiếu hệ bạch huyết bằng cây Sao chổi
6.Gạch mặt bằng cây dò
7.Gach cổ, gáy, vai, lưng bằng cây  3 chia lớn.
8.Lăn mặt bằng cây lăn đinh đôi nhỏ
9.Lăn mặt bằng cây lăn cấu đôi nhỏ bằng sừng hay nhựa (có khía hoặc láng)
10.Lăn mặt bằng cây lăn trung hình trụ, có khía (bằng đồng hay nhựa)
11.Lăn mặt bằng cây lăn cầu láng bằng đồng hoặc nhựa
12.Lăn tay, chân, lưng, ngực, bụng bằng cây lăn quẹt
13.Lăn bụng, lưng và mông bằng cây lăn 3 trục
14.Lăn lưng, mông , đùi bằng cây lăn cầu gai đôi lớn
15.Lăn khớp lưng, đùi bằng cây lăn đinh lớn 16.Lăn mặt và các ngón tay bằng cây lăn 2 đầu
17.Lăn lưng, mông, đùi, bàn tay, bàn chân bằng quả cầu gai rời bằng nhựa hay inox
18.Lăn toàn thân bằng cây trục đôi Thần kỳ
 19.Gõ búa Mai hoa (búa nhỏ) đầu sừng bằng đầu gai (đinh) trên mặt, đầu hay các bộ phận khác trên cơ thể.
20.Gõ búa lớn (đầu cao su) khắp người
21. Gõ búaTrường thọ khắp mặt
22.Cào đầu bằng cây cào lớn
23.Cào mặt và 2 lòng bàn tay bằng cào mini
24.Xâm mứt gừng bằng cây xâm 2 đầu nhỏ.
25.Ấn tê (Nhất dương chỉ) bằng cây Giọt sương có đầu bi nhỏ
26.Chà đầu, ngực, bụng, lưng, mông, đùi… bằng con bọ lớn/nhỏ hay cây Mỹ nữ
27.Chà mặt bằng bàn chải tiên lớn/nhỏ có một đầu bằng đồng
28.Chà mặt bằng cây đĩa bay nhỏ (Josephine) và chà bàn chân bằng cây đĩa bay lớn .
29.Ủi mặt bằng con cá nhỏ (cây Napoleon) có đầu đồng hay nhựa – Ủi trên lưng, mông, đùi, bắp chân bằng con Cá lớn (Napoleon)
30.Day phớt các sinh huyệt ở mặt hay trong người bằng cây dò day, còn gọi là cây day phớt
31.Hơ ngải cứu trên sinh huyệt trên mặt và khắp cơ thể
31.Hơ máy sấy tóc trên cơ thể (bụng, ngực, cổ, gáy, vaI, lưng, lòng bàn tay, chân…
32.Chườm nóng bằng túi chườm nóng (dùng điện hay nước nóng) tại chỗ đau.

Thứ Tư, 29 tháng 1, 2014

Bài giảng 8: Diện Chẩn điều khiển liệu pháp



Bài 8: Nhức đầu
I/ Đại cương
Chưa có triệu chứng cơ năng nào thông thường, phổ biến bằng Nhức đầu. Chưa có triệu chứng nào màn guyên nhân phức tạp bằng.
Vì lý do đó nên thầy thuốc cang không chú ý khám xét điều trị. Thường là bệnh nhân tự chữa lấy bằng những thuốc được bạn bè mách sau khi đã khám nhiều thầy thuốc, bằng những thuốc điều trị Nhức đầu bán tự do cólẽ đượctiêu thụ nhiều nhất thế giới ( ĐẶNG VĂN CHUNG-Điều trị học II).

II/ Nhắc sơ lược về Đông Y và Tây Y
Nguyên nhân:
  1. Tây Y: Những danh từ: nhức đầu, vàng đầu, buốtóc chỉ là mức độ khácnhau. Nhức đầu thường ở các vị trí sau: Vùng trán, tháidương, đỉnh đầu, chẩm(occiput) không có giá trị nhiều về chẩn đóan nguyênnhân. Chỉ có nhức nửa đầu (migraine). Đau dây thần kinh số V là rõ rệt.Không thể kểhết nguyên nhân nhức đầu và phần lớn lại không tìm ra được nguyên nhân.
Theo một số tác giả thì nguyên nhân nhức đầu có thể là :
+         Do mạch máunhư huyết áp tăng,chứng nhức nửa đầu,dị ứng,
+         Do chấnthương sọnão,
+         Do phản ứngvìbệnh: Tai, mũi, họng, xoang, răng, bệnh mắt(cận thị,viễn thị,) bệnh cột sống, cổ hay có bệnh xa não (tiêu hóa, gan, mật, thận, sinh dục, nhiễm độc,  thiếu máu).
+         Do rối lọan tinhthần,suy nhược thần kinh.

Đứng về phương diện điều trị, người ta phân biệt:
+         Nhức đầu do một bệnh tìm thấy được,
+         Nhức đầu đơn độc không tìm thấy nguyên nhân.
Nói chung,  có nguyên nhân hay không trừ vài nguyên nhân có thể điều trị khỏi hẳn như:  Viêm xoang, răng, mặt, mắt phần lớn nhức đầu khó khỏi hẳ, tái phát và cần điều trị triệu chứng bắng thuốc ( ĐẶNG VĂN CHUNG- Điều trị Học).

  1. Đông Y: Đầu là nơi hội họp của các Kinh dương cũng là nơi tụ tập khí huyết của Tạng phủ.  Vì vậy Ngoại cảm hay Nội thương đều làm cho Mạch lạc mất điều hòa, khí huyết bị trở ngại mà sinh ra đau đầu.  
Nguyên nhân:
+        Có thể Ngoại cảm tức là cảm nhiễm tà khí của Phong, Hàn, Thử, Thấp làm cho Mạch Lạc cũng tắc, khí huyết không thông,  phát sinh ra bệnh Đau đầu.
+        Có thể Nội thương như: Tình chí không điều hòa làm cho Can khi xung nghịch nên ăn uống không điều độ làm cho đàm trọc uất kết lại,  phòng dục không tiết chế làm cho Thận khí suy yếu dần.
Sau khi bệnh nặng đã khỏi ,khí huyết còn suy yếu kém các nguyên nhân trên đều gây ra bệnh đau đầu.

III. Theo Diện Chẩn – Điều khiển liệu pháp
  1. Nguyên nhân:
Nhức đầu là bệnh phổ biến và donhiều nguyên nhân,nhưng cũng khôngngòai các yếu tố: Thần kinh, Nội tạng, Môi trường, Khí hậu, Sinh họat, Ăn uống. Cho nênmuốn chữa có kết quả chứng ĐAU ĐẦU thìphải tìm hiểu xem nguyên nhân gây ra chứng ĐAU ĐẦU là do ở cơ quan,  bộ phận nào hay do môi trường (khói xe, khói thuốc lá, thời tiết nóng nực,  thiếu ôxy,  nhiều gió) do thức ăn (nước đá,  rau má,  nước chanh,  cam,  nước dừa ,  rượu,  cà phê,  thuốc là) hoặc sinh họat (quá căng thảng đầu óc, lo sợ,  buồn rầu).
Nhức đầu
  1. Triệu chứng
Trên thực tế Nhức đầu có nhiềudạng do cảm giác của bệnh nhân ghinhận được như nặng nề,ê ẩm,nhức buốt,nhứccăng,nhức có cảm giác như có cái gìgiật bên trong,nhức như thanh sắt xuyên quađầu hoặc búa bổ vào đầu,nhức như niềnxiết đầu,như như lồi mắt ra,nhức gân gáylan ra hai vai,nhức sau chẩm,giữa đỉnhđầu,giữa trán,nhức ½ bên đầu…tùy theokiểu đau và vị trí chỗđaumà có cáchchữa khác nhau.
  1. Hướng dẫn điều trị:
Cũng giống Đông Y và TâyY”DC-ĐKLP” tìm nguyên nhân gây ra ĐAUĐẦU là do ở cơ quan,bộ phận nào và từ đótìm cách chữa cùng lúcnguyên nhân vàtriệu chứng.
Vi dụ:Tìm rachứng NHỨCĐẦU của một bệnh nhân là do Huyết áp cao hoặc thấp thì chữa huyết áp làchính,đồng thời vẫn chữatriệu chứng ĐAU ĐẦU.
Nếu đau dâythần kinh Tamthoathì chữa đauthần kinh Tam thoa là chính,đồng thời vẫnlàmgiảm cơn đaunhức.Nếu làđau răngthườngthì chữa răng là chínhhoặc nếu dođau taithìchữa tai làchính,chữa triệu chứng là phụ hoặc NHỨC ĐẦU dotáo bónthìchữa táo bón là chính hoặcđôi khi do nguyên nhân ở bên ngàoi như do ăn uống sailầm,sinh họat không đúngcách…thì lo chữa nguyên nhân đó,song song với việc chữatriệu chứng.Tuynhiên,nói chung làphải kiên trì vớibệnhnày thì mới có kết quả tốt.
  1. Chuẩn đoán và cách điều trị
Dùng QUE DÒ khám cáchuyệt về thần kinh và Nội tạng để biết đau do Thần kinh hay Nội tạng.
Ví dụ:  Dò thấy huyệt 124-34 đau biết là nhức đầu do thần kinh căng thẳng hay do mất ngủ,hoặc thấy đau ở huyuệt 50 biết là do huyết áp thấp.  Thấy đau ở huyệt 26-8 biết là do huyết áp cao.  Thấy đau ở huyệt 7-53-156biết đau do kinh huyệt không đều.
Cần kết hợp khám lâm sàng (kiểu Tây Y ) và hỏi triệu chứng để biết rõ thêm gốc bệnh và cảm giác bệnh,  từ đó chọn huyệt thích hợp,  khi biết rõ đích xác gốc bệnh thì dùng các hình thức tác động ở bài số 5để điều trị.

Kiêng cữ
-          Nước đá,  nước dừa, cam,  chanh,  cho bệnh NHỨC ĐẦU do HƯ HÀN,  PHONG HÀN,  HUYẾT ÁPTHẤP.
-          Thức ăn mặn,  cà phê,  thuốc lá,  rượu cho bệnh HUYẾT ÁP CAO.
-          Gió,  quạt máy,  nước dừa cho bệnh YẾU GAN THẬN.

Tóm lại:
Nên theo dõi sát bệnh mình:  Để ý những gì làm mình khó chịu thì kiêng cữ. Mặt khác,  phải rèn luyện cơ thể để chống chọi với bệnh tật.
GSTSKH. Bùi Quốc Châu




Bài giảng 7: Diện Chẩn điều khiển liệu pháp


Bài 7: Cảm mạo
I. Định nghĩa:
“Cảm”: Là danh từ dùng để chỉ bệnh do sự thay đổi thời tiết. Ta thường gọi là bệnh khi trái gió,trở trời. Đông Y hay gọi là Cảm mạo hay Ngoại cảm. Tây Y cũng dùng để chỉ một bệnh do Virus gây nên.
Cần phân biệt với Cúm (Grippe) là bệnh có thể lây làn nhanh chóng thành dịch lớn. Cúm thường gây ra những biến chứng tai hại hơn Cảm.

II. Nguyên nhân
·         Theo Tây Y: Bệnh cảm là bệnh có ảnh hưởng của thời tiết và do vi-rút(Virus)gây nên .
·         Theo Đông Y : Do sức chống đỡ của cơ thể kém,PHONG HÀN xâm nhập làm PHẾ KHÍ không tuyên thông,gây nên CẢM MẠO.Nếu khí hậu trái thường uế khí nhiều,nhiệt độ mạnh,xâm nhập PHẾ sẽ gây CÚM.Nếu lan truyền sẽ gây thành DỊCH CÚM.

III. Triệu chứng
·        Đông Y: Có hai thể bệnh chính:
1/ Thể Phong hàn: Đau đầu, phát nóng, sợ lạnh, không có mồ hôi, nghẹt mũi (chãy nước mắt), rêu lưỡi mỏng, trắng, mạch phù, khẩn.
2/ Thể Phong nhiệt: Đau căng đầu, đau họng, ho có đàm vàng đặc, sốt cao, không sợ lạnh, ít mồ hôi, đau mình mẩy, khô miệng, rêu lưỡi mỏng vàng, mạch phù.
·         Tây Y: Không phân chia CẢM nóng hay lạnh như Đông Y mà chỉ ghi triệu chứng nhức mỏi, sốt nhẹ, đau mình, nghẹt mũi, đau họng.
·         Theo “Diện Chẩn – Điều khiển liệu pháp”
Qua nhận xét trên thục tế chúng ta thấy:
-         Về nguyên nhân bệnh: Chủ yếu là do sức đề kháng của cơ thể kém, do sự thay đổi thời tiết đột ngột hoặc do sinh họat không hợp lý (lao lực,lao tâm, thói quen tắm đêm,tắm ngay sau khi đi làm mệt về đổ mồ hôi:sau khi giao hợp còn để quạt may hay ăn uống một số thức ăn có tính hạ nhiệt, giải biểu hạ áp như; chanh,cam, rau má, rễ tranh, nước dừa.. lâu ngày khiến da thưa hở, do đó dễ cảm nhiễm thời tiết). Bệnh bị xâm nhập chủ yếu qua đường hô hấp, da lông, tạng phế và thận bị ảnh hưởng nhiều nhất.
-         Về triệu chứng: Cảm mạo do thời tiết thường đi liền với ho (cảm ho) và sổ mũi (cảm sổ mũi), ớn lạnh, sợ gió, đau mình, mỏi mệt, hơi thở lạnh,tay chân lạnh ở trường hợp cảm lạ. Đôi khi sốt cao, viêm họng, hơi thở nóng, tiểu nóng, mạch nhanh ở trường hợp cảm nóng.
-         Về chẩn đóan: Dùng QUE DÒ khám, ta thường thấy xuất hiện những điểm đau(thống điểm)ở các huyệt 26 ,3-,39, 38 ,15, 143 ,14, 16, 222 ,29 ,85 ,87 ,60 trên mặt của các bệnh nhân bị cảm nóng.Và đối với các bệnh nhân bị cảm lạnh thường khám thấy các điểm đau ở huyệt số 0-17-127-1-7-37-19-13-63 (vận dụng thuyết ĐỒNG BỘ THỐNG ĐIỂM).
-         Về mặt điều trị: Chỉ cần áp dụng một trong những cách sau đây(hoặc tổng hợp các cách).Bôi dấu xoa vuốt ấm nóng vùng mang tai(trước tai) và vành tai,hai bên rườn mũi,đầu mũi,cằm,hai cung mày(gờ mày),  vành môi trên đối với bệnh cảm lạnh Day ấn hoặc lấy cục nước đá nhỏ áp vào các huyệt 26-3-39-38-29-222-85-87-14-15-16-275 đối với bệnh cảm nóng.Có thể dùng phương pháp DÁN CAO vào các huyệt trên hay để ngón tay lên huyệt (Mỗi huyệt 1-2- phút).
-         Đặc biệt, để ngửa bệnh Cảm mạo, chỉ cần làm một động tác đơn giản là đánh dầu cù là vào vùng mang tai (nhất là huyệt số 0) hai bên rườn mũi và cằm mỗi ngày vài phút. Sau đó, có thể DÁN CAO vào các huyệt số 0-287-7-127-51 mỗi đêm, sáng gỡ ra.
-         Lý giải: Tác động huyệt dố 0 để tăng sức đề kháng, làm ấm người. Huyệt số 7-287 để làm ấm, cầm sổ mũi huyệt 51 để làm ấm chân.
-         Về thuốc Nam: Ta có thể áp dụng toa Âm dương thang tức toa Tắc nghệ với liều lượng và cách dùng như sau:
+ Bệnh cảm nóng: 2 hoặc 3 trái tắc to, bổ đôi để vào chén.giã nát 3 lát nghệ sà cừ bỏ vào, thêm 3 muỗng mật ong 2/3 chén nước rồi đem chưng cách thủy. Sau khi  sôi độ 10-15 phút, uống ngày 3 lần sau bữa ăn. Tránh uống lúc đói.
+ Bệnh cảm lạnh: Giã nát 1 củ nghệ độ 30-40gr (cỡ ngón chân cái người lớn) thêm vào nửa trái tắc 3 muỗng mật ong, 2/3 chén nước. Cách dùng như trên.
+ Bệnh không rõ NÓNG hoặc LẠNH; 2 trái tắc + 1 củ nghệ 30gr. Cách làm và cách dùng như trên.
CỮ ĂN: Cam, nước dừa, nước mía, nước đá nếu bị cảm lạnh.
Lưu ý:
-         Không nên dùng quá liều lượng đã quy định trên,có hại .
-         Cần linh động gia giảm tùy tình trạng bệnh.
-         Trái TẮC thuộc ÂM làm mát (nếu dùng nhiều sẽ làm lạnh cơ thể). CỦ NGHỆ thuộc DƯƠNG làm ấm(nếu dùng nhiều sẽ làm nóng cơ thể).

Phòng bệnh tổng quát
Mỗi ngày ,ngay sau khi thức dậy,lúc còn trong mùng xoa mặt bằng tay( có thể chấm thêm một ít dầu cù là) chà sát khắp mặt,đầu,vành tai, cổ,gáy.Sau đó,lấy ngón tay chà từng vùng trên mặt tương ứng với các cơ quan nội tạng hay bộ phận bên dưới,làm khỏang 2 phút,xong ngồi trên giường xếp bằng để hai tay bắt chéo ra sau lưng cúi gập 3 phía;trước mặt,bên phải, bên trái .Mỗi phía từ 5-10 lần.Vừa làm vừa hít sâu.Xong đi ra rửa mặt bằng khăn nhúng nước ấm,chà sát khắp đầu, mặt cổ, gáy, tai trong vòng 2 phút. Tất cả động tác thực hiện khỏang 10 phút, sau đó đi tắm.Các động tác trên phải làm thường xuyên mỗi buổi sáng.

Tối có thể chỉ nên xoa nóng gan bàn chân bằng 2 tay 2 chân (cọ sát nhau).Nếu tối xoa mặt bằng nước ấm hoặc chạy tại chỗ sẽ làm khó ngủ.

Phương pháp tập luyện đơn giản này,nếu được thực hiện một cách nghiêm túc và đều đặn mỗi ngày, sẽ giúp cho cơ thể bạn khỏe mạnh và khoan khóai.Đó là một cách phòng bệnh đơn giản mà hữu hiện lại ít tốn sức, ít mất thời giờ,phù hợp với nhiều người .

Mong Cô, Bác , Anh, Chị thử thực hiện xem sao!.

GSTSKH. Bùi Quốc Châu








Bài giảng 6: Diện Chẩn điều khiển liệu pháp


Bài 6:
Thông tin bài giảng chi tiết được cập nhật trong ô bên dưới: 
Tạng, Phủ, Kinh, Mạch
Nhìn
Ấn đau (thốn nhói) ấn lõm, cộm, cứng, hơ nóng
Triệu chứng
Bệnh

1
2
3
4
5
PHẾ
Tàn nhang hay nám ở quanh vùng huyệt 3,13,73,467
3,13,269,276,73,125,467
-       Đau hố trên đòn.
-       Đau huyệt Vân Môn trung phủ
-       Đau dọc kinh Thủ thái âm phề (mặt trong cánh tay)
-       Đau dọc Túc Thái Âm Tỳ kinh (mặt trong đùi).

-       Mắt nóng mờ, có ghèn, táo bón.
-       Ho, suyễn, viêm phế quản, tức ngực, nhói tim. Đổ mồ hôi tay chân. Bệnh ngoài da.
Ở KINH







Ở TẠNG
TỲ
Mụt ruồi, tàn nhang, hay vết nám ở vùng tỳ (huyệt 37,40,132)
37,40,132
-       Tiểu vàng, tiểu gắt, nóng, cảm sốt.
-       Đau dọc tỳ kinh (mặt trong đùi)
-       Cơ quan chân tay bị teo
-       Đau thần kinh tam thoa

-       Tiểu vàng, gắt nóng, đái khó. Đầu bụng, kém ăn, ăn chậm tiêu. Huyết áp thấp. Suyễn do tỳ-tiêu chảy do Tỳ hàn.
Ở KINH




Ở TẠNG
ĐẠI TRƯỜNG

Tàn nhang hay nám ở quanh vùng huyệt 38,19,63
38,39,19,
32497,98,99,100
-   Vai và cánh tay đau giơ lên khó khăn (đau dọc kinh Đại trường mặt ngoài cánh tay). Ngón tay trỏ bị đau. Cổ tay đau- Đau răng hàm dưới. Sung nướu răng- Nghẹt mũi.

-   Đau thượng vị
-   Miệng khô, đau cổ, đau bụng, ỉa chảy hoặc táo bón-Đau lưng vùng thận

Ở KINH





Ở PHỦ

VỊ
Mụt ruồi, tàn nhang, hay vết nám ở huyệt 39,5, hoặc bờ môi trên hay ở huyệt 422 trái
19,39,121,5,120,
61,75,64,63,7,113,
422,405
-   Sốt cao, U nhọt
-   Đau dọc kinh Vị (mặt trước ngoài cẳng chân. Đau thốn huyệt Túc Tam Lý)
-   Đau ngón tay trỏ và ngón chân trỏ. Viêm họng, sốt cao
-   Miệng môi mọc mụn
-   Nhức răng, sưng nướu
-   Nghẹn họng
-   Sưng vú, tắt tia sữa
-   Đau dạ dày(bao tử lạnh hay bao tử nóng)
-   Loét tá tràng
-   Đau thượng vị, đau trung quản.
-   Đầy bụng, kém ăn
Ở KINH










Ở PHỦ
TÂM
Nếp nhăn thẹo hay tàn nhang hay gân xanh ở vùng huyệt số 8,12,269,191
8,12,269,3,73,61,19,191
-   Vai, mặt trong cánh tay (dọc Kinh tâm)
-   Gan bàn tay nóng hoặc lạnh-Miệng khô đắng- Lưỡi lở- Đau mắt-Cổ gáy cứng mỏi- Ngứa cổ, ho khan- Đau nơi huyệt Thiếu hải (mặt trong khuỷu tay)

-   Đau vùng tim, sườn, ngực đau tức,hay sợ sệt, nằm ngủ, thấy giấc mộng. Nặng ngực, khó thở, thiếu hơi.
Ở KINH







Ở TẠNG
THẬN


Tàn nhang hay vết mụn nám, mụn ruồi ở Ngọa tằm (mí mắt dưới) ở vùng cằm (huyệt 85, 87) vùng huyệt 38,17,45,300,0
0,17,38,29,222,
45,340,300,301,302,51

-   Cột sống, thắt lưng đau dọc mặt trong chân (dọc kinh thận). Lòng bàn chân nóng hay lạnh, đau dọc Tâm kinh (mặt trong cánh tay). Miệng nóng, lưỡi khô.

-   Phù thủng, đái không thông, đau vùng hố chậu lan ra sau lưng (vùng thận), ho ra máu, suyễn, mắt hoa.
-   Tim đập yếu chân lạnh, suy yếu tình dục. Liệt dương.
-   Dương suy, xuất tinh sớm. Nhức xương chân.
Ở KINH





Ở TẠNG


TIỂU TRƯỜNG
Mụt ruồi, tàn nhang, hay vết nám, thẹo ở huyệt 22,53,85,348,228,191
22,348,53,228,127,191,226
-   Ù tai, điếc tai, đau cổ gáy,họng, vai và bờ trong cánh tay.
-   Đau dọc tiểu trường. Nhức răng hàm dưới.

-   Đau bụng, tiêu chảy, đau bụng lan ra thắt lưng. Tiểu nhiều.
Ở KINH



Ở PHỦ
BÀNG QUANG
Tàn nhang,mụn ruồi, nếp nhăn ở cằm
87,85,126
-   Mắt đau, kém mắt, chảy nước mắt sống, chảy mũi. Đau đầu, gáy, lưng, hai bên cột sống(dọc kinh bàng quang)

-   Đái không thông, bí tiểu, đau tức bụng dưới, đái dầm, đái đục, đái đỏ, tiểu đêm, tiểu nhiều
Ở KINH




Ở PHỦ

TAM TIÊU

Tàn nhang hay thẹo, nốt ruồi ở vùnghuyệt235,138, 100 và dọc kinh Tam tiêu (mặt ngoài) cánh tay chạy xuống ngón áp út
235,100,29,185,290
-   Ù tai, điếc tai, chảy mũi tai, thanh quản sưng đauy, đau đầu, đau mắt. Ngón tay áp út cử động khó. Cánh tay giơ lên không được.
Ở KINH




Ở PHỦ

ĐỞM
Mụt ruồi, tàn nhang, hay vết nám ở huyệt 41,124, bên mặt
41,124
-   Ù điếc, viêm tai, đau mắt, đau nửa bên đầu, đau hố trên đòn, lao hạch, khớp háng đau ngón chân áp út cử động khó. Đau thần kinh tọa dọc Đởm kinh(mặt ngoài của chân)

-   Đau tức cạnh sườn. Miệng đắng, buồn nôn, xơ gan cổ trướng
Ở KINH





Ở PHỦ
TÂM BÀO
tàn nhang , Mụn ruồi hay vết nám ở gò má
60,269,73,3
-   Mặt đỏ, nách sưng. Cánh tay, khuỷu tay đau. Gan bàn tay nóng.
-   Gan bàn tay nóng hoặc lạnh-Miệng khô đắng- Lưỡi lở- Đau mắt-Cổ gáy cứng mỏi- Ngứa cổ, ho khan- Đau nơi huyệt Thiếu hải (mặt trong khuỷu tay)

-   Đau vùng tim, bồn chồn, hồi hộp, tức ngực sườn, tim đập mạnh, nói nhảm, hôn mê.
Ở KINH







Ở TẠNG
CAN
Tàn nhang huyệt 50,233,423
50,233,423
-   ĐỈNH ĐẦU ĐAU. Móng tay đau. Tắt tia sữa- mắt hoa-kinh phong-viêm mũi-dị ứng-bệnh ngoài da-đỗ mồ hôi chân

-   Tức ngực-Nôn-Nấc-đau tức thượng vị -da vàng, ỉa lỏng- Thoát vị đệm
Ở KINH




Ở PHỦ
GSTSKH. Bùi Quốc Châu